Cách chăm sóc bé bị bệnh sởi

Bệnh sởi là một bệnh sốt phát ban truyền nhiễm do virut gây nên, bệnh lây qua đường hô hấp, rất hay gay thành dịch và mùa đông xuân. 90% đối tượng hay gặp ở trẻ em. Trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi rất ít khi bị bệnh, do còn miễn dịch của mẹ truyền sang qua rau thai, nếu trẻ tuổi nay mà bị bệnhthì làdo mẹ chưa bị sởi. Bệnh có thể gây miễn dịch trong thời gian dài sau khi mắc bệnh.

Cách chăm sóc bé bị bệnh sởi

Triệu chứng của bệnh:

1. Sốt cao

Đầu tiên, trẻ có sốt cao 38,5 đến 40độ có kèm theo họi chứng viêm long niêm mạc:

  • Viêm niêm mạc mắt: làm cho mắt đỏ, chảy nước mắt, sau đó viêm kết mạc. Trừờng hợp nặng hai mí mắt sưng nề dính chặt vào nhau.
  • Viêm niêm mạc đường hô hấp: Trẻ hắt hơi, sổ mũi, ho, họng đỏ,trường hợp nặng có thể viêm thanh quản, mất tiếng.Khám miệng thấy những chấm trắng nhỏ bằng đầu đinh gim, rải rác trong má trước răng hàm (hạt Koplik). Thời kỳ viêm long này là dễ lây bệnh nhất.

2. Thời kỳ mọc ban sởi

Kéo dài khoảng 3 đến 4 ngày, các ban sởi bắt đầu mọc sau tai lan dần ra mặt rồi xuống ngực bụng, lưng và cuối cùng là đến chân. Ban sởi là an dạng rát, màu đỏ thắm,kích thước 1 – 1,5 mm. xen giữa các ban là khoảng da lành, sờ mịn như nhung, không bao giờ gây ngứa. Trẻbị sốt trong suốt thời kỳ mạc ban.

3. Thời kỳ lui bệnh

Nếu không có các biến chứng,trẻ hết sốt, ban bắt đầu lui dần theo tuần tự như khi sởi mọc, nưng sau khi bay để lại vết thâm trên da, trên phủ vẩy phấn trắng tạo thành vết vằn như da hổ.

Trong trường hợp có biến chứng, trẻ vẫn sốt cao sau khi ban sởi đã bay, trẻ biếng ăn, sút cân, hơi thở hôi, có thể bị viêm miệng hoại tử, có thể viêm phế quản , viêm não, viêm phổi, viêm tai giữa, viêm thanh quản, viêm ruột, ỉa chảy kéo dài dẫn tới suy dinh dưỡng.

4. Chăm sóc trẻ khi bị sởi

  • Để trẻ nằm trong buồng thoáng khí, sáng, không nên kiêng khem quá mức, nên bỏ tập tục kiêng nước, kiêng gió. Vệ sinh răng miệng và thân thể cho trẻ.
  • Nhỏ mũi, mắt cho trẻ bằng dung dịch nước muối sinh lý hoặc dung dịch nước nhỏ mắt mũi, ngày 3 -4lần.
  • Nếu không có biến chứng thì không cần dùng kháng sinh chỉ dùng Vitamin B1, C liều cao. TRường hợp sốt ca trên 39độ C thì có thể cho hạ nhiệt bằng thuốc
  • Trường hợp sởi có biến chứng (dấu hiệu trẻ vẫn sốt sau khi ban đã bay hết) phải đưa trẻ đến bệnh viện và điều trị kịp thời.
  • Chế độ ăn trong những ngày trẻ sốt cao thì nên cho trẻ ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu, uồng nhiều nước quả.
  • Khi trẻ bị tiêu chảy cho trẻ bú mẹ nhiều hơn, chú ý bù nước và điện giải cho trẻ để chống mất nước mất muối.

5. Phòng bệnh

Cách phòng bệnh tốt nhất là đưa trẻ từ 9tháng tuổi đi tiêm phòng văcxin sởi đầy đủ. Phát hiện sớm giai đoạn viêm long để cách ly trẻ bệnh với trẻ thường.

Bé nhà bạn mới 6 tháng tuổi, rất ít khả năng trẻ mắc sởi nên tốt nhất bạn nên đưa trẻ đi khám để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Trẻ bị sốt phát ban có đáng lo ?

Sốt phát ban là bệnh thường gặp ở trẻ em, tuy nhiên cũng có thể gặp ở người lớn. Hầu hết trẻ em đều có ít nhất 1 lần mắc bệnh này và bệnh chỉ nguy hiểm khi chúng ta hiểu sai cách chữa trị, từ đó dẫn tới biến chứng có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Bệnh sốt phát ban được biểu hiện bằng sốt và nổi nhiều chấm đỏ rải rác toàn thân. Bệnh do nhiều loại siêu vi gây ra nhưng có 2 nguyên nhân chính gây bệnh sốt phát ban là siêu vi sởi và siêu vi gây bệnh rubella. Bệnh sởi còn gọi là ban đỏ, bệnh rubella còn gọi là ban đào. Bệnh sốt phát ban do sởi thường biểu hiện bằng sốt cao kèm theo ho, sổ mũi, mắt đỏ, vài ngày sau đó thì phát ban. Đầu tiên ban xuất hiện ở mặt, ngực, toàn thân.

Trẻ bị sốt phát ban có đáng lo ?

Sau khi ra ban, trẻ sẽ giảm sốt và sau khi các nốt ban mất đi sẽ để lại các vết thâm trên da khoảng vài tuần sau mới hết. Sốt phát ban do sởi nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến các biến chứng viêm phổi, viêm não, gây co giật, tử vong. Còn với bệnh sốt phát ban do rubella thường trẻ sốt nhẹ hoặc không sốt, ban xuất hiện rất nhanh có thể một ngày đã nổi khắp cơ thể, đa số trẻ kèm theo tiêu chảy hoặc tiêu phân hơi lỏng. Ban đào hay rubella thì rất lành tính ở trẻ em, rất hiếm gặp biến chứng. Tuy nhiên, nếu phụ nữ mang thai trong vòng 3 tháng đầu mắc bệnh ban đào sẽ ảnh hưởng đến thai nhi gây sẩy thai, sanh non, thai nhi sanh ra mắc nhiều tật ở mắt, tim, não,…

Bệnh sốt phát ban lây lan rất nhanh vì bệnh lây theo đường hô hấp do người lành hít phải các chất có siêu vi trùng gây bệnh khi người bệnh ho hay hắt hơi. Tuy nhiên, không phải ai mang mầm bệnh cũng bị bệnh nên chúng ta phải chủ động, nếu biết có vùng nào nhiều người bị sốt phát ban thì hạn chế tiếp xúc. Những trẻ từ 6 tới 12 tháng tuổi dễ bị lây bệnh nhất vì vào tuổi này, kháng thể của người mẹ truyền cho chúng từ trong bào thai đã hết mà kháng thể mới thì chưa thành lập.

Đối với trường hợp sốt phát ban thể nhẹ, bệnh nhân có thể được điều trị và chăm sóc tại nhà bằng cách: khi trẻ sốt cao nên lau mát bằng nước ấm; tránh cơ thể bé tiếp xúc với gió, ngay cả gió quạt máy; cho trẻ uống paracetamol liều 10 – 15 mg/kg/1 lần, có thể lặp lại sau từ 4 – 6 giờ nếu trẻ còn sốt trên 38,50C; chế độ dinh dưỡng trong giai đoạn điều trị bệnh cũng rất quan trọng, vừa cung cấp năng lượng cho cơ thể chống lại bệnh, vừa đảm bảo vệ sinh để bé không bị mắc tiêu chảy. Chế độ ăn cũng nên tăng thêm, cho trẻ ăn nhiều hơn bình thường, chia thành nhiều bữa và ưu tiên cho những thức ăn dễ tiêu hóa và đầy đủ chất dinh dưỡng; cho trẻ bú tiếp tục nếu trẻ còn bú; cho trẻ ở nơi thoáng mát, sạch sẽ; vệ sinh cá nhân và vệ sinh răng miệng cho trẻ. Nếu bệnh không nặng lên thì không cần nhập viện, sau vài ngày bệnh sẽ tự khỏi. Trong trường hợp bệnh tiến triển nặng, sốt quá cao, thở mệt, tiêu phân có máu, chảy mũ tai, co giật, hôn mê nên đưa trẻ đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được điều trị kịp thời vì lúc này trẻ đã có biến chứng.

Về cơ bản, sốt phát ban do virus là lành tính, song vẫn có những cas bị biến chứng. Vì vậy, để hạn chế sự lây lan của bệnh, các nhà chuyên môn khuyến cáo, trước hết cần làm sạch môi trường sống, giữ gìn vệ sinh cá nhân. Khi có biểu hiện sốt phát ban, người bệnh cần tránh chỗ đông người, nếu phải tiếp xúc thì cần đeo khẩu trang, hoặc nếu có điều kiện thì tốt nhất là cách ly một thời gian ngắn để phòng bệnh và tránh lây lan cho người khác. Tuy nhiên, trẻ bệnh có thể lây cho trẻ khác ngay khi chưa có biểu hiện phát ban. Cách phòng ngừa tốt nhất là tiêm chủng. Vaccine sởi có thể chích ngừa khi trẻ được 9 tháng tuổi theo chương trình tiêm chủng mở rộng; rubella được chích chung với quai bị và sởi trong cùng 1 lần khi trẻ được 12 tháng tuổi.

Bình tĩnh xử lý khi trẻ bị sốt phát ban

Thấy con bị sốt, nổi ban khắp người, nhiều cha mẹ ở Hà Nội liền đưa con đến bệnh viện khám vào buổi tối dưới dạng cấp cứu vì sợ biến chứng não. Tuy nhiên, dịch sốt phát ban ở trẻ hiện nay không quá nguy hiểm, thường tự khỏi.

"Lý do là vì nhiều người sợ con bị sốt phát ban dẫn đến biến chứng ở não. Tuy nhiên, cha mẹ không nên lo lắng thái quá vì không phải trẻ nào bị sốt, nổi ban cũng để lại hậu quả nguy hiểm. Phần lớn trẻ đến khám đều được cho về nhà điều trị, chỉ một số rất ít cần phải nhập viện", phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai cho biết.

Bình tĩnh xử lý khi trẻ bị sốt phát ban

Theo ông, phát ban là triệu chứng của nhiều bệnh, trong đó bệnh sởi thì nguy hiểm hơn nhiều so với rubella và các dạng sốt có nổi ban do virus khác vì dễ dẫn đến biến chứng nặng. Dịch sốt phát ban ở trẻ hiện nay tại Hà Nội đa phần là sốt do virus, không phải sởi và thường không gây biến chứng ở não.

Vì thế, khi trẻ bị sốt có nổi ban, cha mẹ chỉ cần điều trị triệu chứng, hạ sốt khi cần, nghỉ ngơi, tăng cường chế độ ăn. Ngoài ra, tuyệt đối không được tự ý cho trẻ uống kháng sinh. Nhiều cha mẹ cứ thấy con ốm là cho uống kháng sinh cho yên tâm, tuy nhiên việc này vô tình lại làm khó cho bác sĩ trong việc chẩn đoán vì không biết ban do bệnh hay do dị ứng thuốc.

Cha mẹ có thể dựa vào những biểu hiện lâm sàng của bệnh để phân biệt giữa sởi và các dạng sốt có nổi ban khác.

1. Sởi:

  • Sốt cao đột ngột
  • Ban mọc không dày, theo quy luật từ đầu, mặt xuống đến người, chân
  • Ban nào mọc trước thì sẽ bay trước, để lại vết thâm trên da sau 1-2 tuần mới hết

Giai đoạn các ban lặn có thể để lại biến chứng. Trẻ em hay bị viêm nhiễm đường hô hấp, với người lớn là viêm não.

2. Sốt có nổi ban

  • Sốt nhẹ, ít khi sốt cao
  • Phát ban dày toàn thân, mọc lộn xộn, không theo quy luật
  • Các ban bay lộn xộn, thậm chí cùng lúc, khi bay không để lại vết thâm ở da

Bên cạnh đó, đối với bệnh này, điều quan trọng là không nên kiêng tắm rửa. Lý do là nếu không được vệ sinh sạch sẽ, đặc biệt là các hốc tự nhiên như: mũi, mắt, miệng sẽ gây bội nhiễm, dẫn đến các biến chứng sưng khớp, viêm não, xuất huyết giảm tiểu cầu…

Ngoài ra, phó giáo sư Dũng cũng khuyến cáo, khi thấy trẻ sốt quá cao, trên 39 độ, có biểu hiện mệt mỏi, khó thở, khó chịu, trẻ kêu đau đầu nhiều thì cha mẹ nên đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế vì bệnh có dấu hiệu nặng.

Trẻ em bị sốt phát ban phải làm gì?

Phát ban là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ. Khoảng thời gian trước khi bị phát ban, em bé sẽ có những thay đổi về trạng thái tinh thần, rõ ràng nhất là biểu hiện quấy khóc. Sau đó bé sẽ bị sốt, sổ mũi, ho, nhiều bé còn bị thêm tiêu chảy , vài ngày sau cơ thể bé sẽ xuất hiện những chấm đỏ toàn thân.

Trẻ em bị sốt phát ban phải làm gì?

Nguyên nhân gây bệnh?

Sốt phát ban do một số loại siêu vi gây ra, nhưng có 2 nguyên nhân chính là siêu vi sởi và siêu vi bệnh rubella. Bệnh sởi còn gọi là ban đỏ, còn bệnh rubella gọi là ban đào.

Sốt phát ban lây lan qua đường hô hấp. Khi bệnh nhân ho, hắt hơi, thì những siêu vi trùng bị bắn ra ngoài khiến cho những người xung quanh có thể hít phải và nhiễm bệnh.

Biểu hiện phát bệnh?

Sốt phát ban do sởi thường có những biểu hiện như sau: trẻ bị sốt cao kèm theo ho và sổ mũi, mắt đỏ. Lúc này các bé cảm thấy rất bứt rứt, khó chịu trong người. Sau đó vài ngày, trẻ sẽ bị phát ban toàn thân, đồng thời cũng sẽ giảm sốt và bớt quấy hơn.

Phát ban do Rubella lại có biểu hiện sốt nhẹ hoặc không sốt. Các nốt ban xuất hiện khá nhanh, trong 1 ngày đã có thể nổi lên trên khắp thân của trẻ. Ở trường hợp này, phần lớn trẻ mắc bệnh sẽ có kèm tiêu chảy hoặc phân hơi lỏng.

Sốt phát ban có gây biến chứng không?

Khi trẻ bị bệnh, các bậc cha mẹ luôn lo lắng, không biết có gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng của trẻ hay không?

  • Bệnh sởi sẽ trở nên nguy hiểm nếu có các biến chứng như : viêm phổi, viêm tai giữa, kiết lỵ, đặc biệt là viêm não.
  • Rubella là bệnh lành tính hơn, và rất hiếm khi xảy ra biến chứng nguy hiểm. Nếu phụ nữ đang mang thai bị mắc Rubella trong 3 tháng đầu của thai kì, có thể dẫn đến sẩy thai, đẻ non, hoặc trẻ sinh ra sẽ mắc tật về mắt, tim, não.

Điều trị và phòng ngừa cho trẻ

Nếu trẻ sốt cao, cha mẹ có thể cho trẻ dùng thuốc hạ sốt, giảm ho. Nhưng nếu thấy bé có những biểu hiện bệnh nặng như : sốt cao không hạ, khó thở, co giật, hôn mê, đi ngoài ra máu hay chảy mủ ở tai… thì cần phải đưa ngay trẻ đến bệnh viện để được cấp cứu kịp thời.

Trong quá trình điều trị, cũng cần phải chú ý tới chế độ ăn uống của trẻ. Nên cho trẻ ăn những thức ăn lỏng, dễ tiêu hóa, đặc biệt cho uống nhiều nước vì lúc này cơ thể trẻ có thể bị mất nước nhiều.

Khi trẻ phát ban, tuyệt đối không được ủ kín và kiêng vệ sinh thân thể, vì điều đó có thể khiến bệnh trở nặng thêm. Thói quen kiêng gió, kiêng nước, thậm chí kiêng trong cả ăn uống là hoàn toàn sai lầm và lạc hậu. Trẻ cần được vệ sinh sạch sẽ để tránh nhiễm trùng Da và biến chứng viêm phổi. Bạn có thể tắm cho con bằng nước ấm, phòng tắm kín gió, để tránh cho trẻ bị nhiễm lạnh .

Cần phải cách ly trẻ bị bệnh để tránh lây lan sang các bạn khác. Tuy nhiên, bệnh có thể lây ngay từ khi trẻ chưa có biểu hiện phát ban, nên việc phòng tránh trở nên khó khăn hơn.

Triệu chứng sốt phát ban ở trẻ

Đối với người Việt Nam, những vết nổi trên toàn thân nào cũng được gọi là "ban" khiến nhiều lúc khó phân biệt những bệnh có triệu chứng này. Bệnh sốt phát ban thường được nhầm lẫn nhiều nhất với bệnh sởi , một bệnh nặng hơn nhiều.

Bệnh sốt phát ban rất thông thường, hầu như em bé nào cũng từng bị qua. Tuy nhiên, có em bị rất nhẹ, không được để ý tới, có em thì lại bị nặng hơn với đầy đủ những triệu chứng, có khi bị cả giật kinh nếu cơn sốt quá cao và bất thình lình.

Triệu chứng sốt phát ban Rubella

Thông thường, thời gian ủ bệnh, tức từ lúc tiếp xúc với siêu vi gây bệnh cho tới lúc có triệu chứng, là 1 tới 2 tuần. Triệu chứng gồm có:

Sốt

Triệu chứng sốt phát ban ở trẻ

Thường cơn sốt đến bất thình lình và cao, hơn 39,5 độ C (103 độ F). Em bé có thể bị đau cổ họng nhẹ hoặc hơi sổ mũi. Ngoài ra, em cũng có thể bị sưng hạch ở cổ. Cơn sốt thường kéo dài từ 3 tới 7 ngày.

Nổi đỏ

Triệu chứng sốt phát ban ở trẻ

Sau khi hết sốt, các em thường bị nổi đỏ, cũng có em không bị. Ban đỏ này thường gồm những điểm hay những mảng nhỏ mầu hồng. Những vết này thường phẳng nhưng cũng có thể hơi nổi cộm. Chung quanh những vết này có thể có một quầng trắng. Ban thường nổi lên ở ngực, sau lưng, bụng và sau đó lan tới cổ và cánh tay, có thể lan tới chân và mặt. Ban thường không ngứa hay làm khó chịu và có thể kéo dài vài giờ tới vài ngày.

Các triệu chứng khác

Gồm có mệt mỏi, khó chịu, tiêu chảy nhẹ, kém ăn, mí mắt sưng…

Bệnh sốt phát ban có lây không ?

Đây là một bệnh trẻ em thường mắc phải,tuy nhiên người lớn vẫn có thể mắc bện hvà thường dẫn đến biến chứng nặng hơn là viêm não, màng não… Bệnh sốt phát ban có tên Mỹ là Roseola tức là ban màu hồng. Là vì những vết nổi lên sau cơn sốt của bệnh này có mầu hồng.

Đối với người lớn, nếu đã từng tiêm ngừa 2 mũi sởi trước đó thì sẽ không có nguy cơ mắc bệnh này. Do đó, nguy cơ mắc bệnh sởi cao chỉ tập trung vào nhóm người lớn chưa từng chích vắcxin chủng ngừa.

Bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm do siêu vi-rút gây ra, lây lan qua đường hô hấp với biểu hiện lâm sàng là: sốt, viêm họng, viêm kết mạc mắt, niêm mạc hô hấp và tiêu hóa, sau đó phát ban đặc hiệu ở ngoài da. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời có thể dẫn đến các biến chứng như: viêm phổi, viêm não, nhiễm khuẩn huyết và tử vong.

Bệnh sốt phát ban có lây không ?

Truyền nhiễm quốc gia, người lớn mắc bệnh sởi có thể là do chưa đánh giá được hiệu quả miễn dịch của mũi tiêm phòng vắcxin sởi từ khi còn bé. Nhiều bệnh nhân đã được tiêm phòng từ nhỏ giờ lại mắc bệnh sởi, có nghĩa là miễn dịch đã không kéo dài suốt đời như vẫn tưởng, mà đã giảm theo thời gian. Khi miễn dịch giảm thì nguy cơ mắc bệnh sẽ rất cao. Đó là lý do khiến số thanh niên, người lớn mắc bệnh gia tăng.

PGS. Phong cho biết, bệnh sởi do vi-rút lây lan rất mạnh, phát tán qua đường hô hấp vào không khí, những người không có miễn dịch hoặc miễn dịch kém thì khả năng lây nhiễm cao. Thông thường, bệnh không nguy hiểm nhưng hầu hết sẽ khiến người bệnh mệt mỏi, khó chịu, không làm việc được. Đặc biệt, bệnh "chưa phát đã lây". Đó là khi người mắc bệnh bị sốt cao đột ngột, đau người, viêm đường hô hấp, ho, chảy nước mũi… thì có nghĩa là trước đó nguồn bệnh đã lây lan, phát tán cho người khác rồi. Với người mắc bệnh, sau 2 – 3 ngày xuất hiện các triệu chứng trên sẽ nổi ban ở mặt, gáy và lan ra khắp người rồi mất dần (các biến chứng của sởi thường xuất hiện sau khi hết phát ban).

Do bệnh có nguy cơ lây lan cao, vì thế khi sốt chưa rõ nguyên nhân cần cách ly ở phòng riêng, không đến chỗ đông người. Cần chú ý giữ vệ sinh răng miệng sạch sẽ, lau người bằng nước ấm. Khi có sốt cao, phải đến khám tại các cơ sở y tế để tìm nguyên nhân và cách điều trị đúng. Mùa thu đông chính là thời điểm dễ mắc và phát bệnh nên cần chú ý vệ sinh và phòng bệnh, PGS. Phong khuyến cáo.

Lưu ý: Người mắc bệnh lưu ý không nên nghe theo quan niệm sai lầm dân gian là phải kiêng gió, kiêng nước, kiêng ăn vì khi không vệ sinh cơ thể sạch sẽ rất khó hạ sốt. Kiêng ăn làm sức đề kháng kém và dễ bị nhiễm trùng. Khi chăm sóc bệnh là trẻ em, có thể tắm cho trẻ bằng nước ấm, lau mát thường xuyên và tăng cường dinh dưỡng bằng nhiều loại thức ăn mềm, chia nhỏ bữa ăn để trẻ ăn nhiều lần.

Làm gì khi.trẻ bị sốt phát ban

Sốt phát ban là chứng bệnh thường gặp ở bé và có thể khỏi hẳn sau đó khoảng 5-7 ngày nếu cha mẹ biết cách chăm sóc tốt.

Làm gì khi.trẻ bị sốt phát ban

Dấu hiệu nên đưa bé đi khám

Bé bị sốt cao, mệt mỏi, đi tiêu ra máu, tai chảy mủ, co giật, hôn mê…

Xử trí

- Nếu bé bị sốt, bạn có thể cho bé dùng thuốc hạ sốt tại nhà (nên tham khảo ý kiến bác sĩ cẩn thận). Nên cho bé uống thêm nước, dùng nhiều thức ăn dạng mềm, lỏng, dễ tiêu (nếu bé đã bước vào độ tuổi ăn dặm).

- Vệ sinh da bé sạch sẽ với nước ấm và lau khô bằng khăn bông mềm. Những nốt đỏ trên da trẻ sẽ nhạt đi và tự biến mất sau đó khoảng từ 5 đến 7 ngày. Không nên để cơ thể bé trong tình trạng quá nóng, bạn nên cho bé mặc quần áo rộng rãi và giữ phòng bé thoáng mát.

- Bạn không nên kiêng nước, kiêng ăn cho bé: Việc bạn ủ kín bé hoặc tránh tắm rửa sẽ khiến bé khó hạ sốt đồng thời các nốt phát ban càng trầm trọng hơn.

Kiêng ăn sẽ khiến bé suy dinh dưỡng, dễ bị nhiễm trùng. Nếu bé bú mẹ, bạn nên đảm bảo đủ các cữ bú trong ngày cho bé. Với bé ăn dặm, nên cho bé ăn làm nhiều bữa nhỏ trong ngày với những loại thức ăn lỏng, dễ tiêu hóa.

Nguy cơ sau sốt phát ban

Nhiều bé sau sốt phát ban có thể mắc phải hội chứng viêm cầu thận cấp. Bé có dấu hiệu phù ở mặt, chân hoặc phù toàn thân. Lượng nước tiểu của bé rất ít hoặc hầu như không có. Bé có thể đi tiểu ra máu.

Vì vậy, sau khi bé khỏi sốt và các nốt phát ban đã lặn hết, bạn vẫn nên thường xuyên theo dõi sức khỏe bé. Nếu thấy dấu hiệu bất thường, bạn nên nhanh chóng đưa bé đi khám.

Phòng phát ban cho bé

- Bạn nên cách ly bé với những người đang mang chứng bệnh phát ban.

- Bạn nên cho bé đi tiêm phòng theo định kỳ: Ngày nay, bác sĩ có thể tiêm phòng cho bé với hai chứng bệnh sởi và Rubella.

Lưu ý: Những nốt phát ban này thường không để lại sẹo cho bé sau này. Vì vậy, bạn không nên lo lắng bé sẽ có di chứng thẩm mỹ.

Theo Mẹ & Bé

Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em

Làm thế nào để phòng chống suy  dinh dưỡng  ở  trẻ em . Bố Mẹ cần phải quan tâm đến chế độ ăn uống của trẻ như thế nào?

dinh dưỡng trẻ em1. Tầm quan trọng của suy dinh dưỡng:

Suy dinh dưỡng do thiếu protein- năng lượng (thường gọi là suy dinh dưỡng) là tình trạng thiếu dinh dưỡng quan trọng và phổ biến ở trẻ em nước ta. Biểu hiện của suy dinh dưỡng là trẻ chậm lớn và thường hay mắc bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy và viêm đường  hô hấp , trẻ bị giảm khả năng học tập, năng suất lao động kém khi trưởng thành.

Năm 2000 ở nước ta có 2,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, chủ yếu là suy dinh dưỡng thể nhẹ và vừa. Tuy vậy, các thể suy dinh dưỡng này cũng có ý nghĩa quan trọng vì đứa trẻ dễ mắc bệnh, tăng nguy cơ tử vong và thường kèm theo thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng. Đáng chú ý là trẻ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ và vừa ít được người mẹ, các thành viên khác trong gia đình chú ý tới vì trẻ vẫn bình thường. ở một cộng đồng (xóm, làng, xã) có nhiều trẻ suy dinh dưỡng, ta càng khó nhận biết được vì chúng đều "nhỏ bé" như nhau. Do đó, suy dinh dưỡng trẻ em cần được sự quan tâm của mọi người.

2. Làm thế nào để biết trẻ bị suy dinh dưỡng?

Theo dõi cân nặng hàng tháng là cách tốt nhất để nhận ra đứa trẻ bị suy dinh dưỡng hay không. Trẻ bị suy dinh dưỡng khi không tăng cân, nhẹ cân hơn đứa trẻ bình thường cùng tuổi.

3. Tại sao trẻ bị suy dinh dưỡng?

Thiếu ăn, bữa ăn thiếu số lượng, thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết để phát triển:

Trẻ dưới 5 tuổi có nhu cầu dinh dưỡng cao để phát triển cơ thể. Để đáp ứng nhu cầu đó, cần cho trẻ ăn uống đầy đủ theo lứa tuổi. Trẻ dưới 4 tháng tuổi cần được bú mẹ hoàn toàn.  Sữa mẹ  là thức ăn lý tưởng của trẻ nhỏ . Từ tháng thứ 5 trẻ bắt đầu ăn thêm ngoài sữa mẹ. Từ tháng tuổi này, thực hành nuôi dưỡng trẻ có ý nghĩa quan trọng đối với suy dinh dưỡng. Nhiều bà mẹ chỉ cho trẻ ăn bột muối, thức ăn sam (dặm) thiếu dầu mỡ, thức ăn động vật, rau xanh, hoa quả. Đây là những tập quán nuôi dưỡng chưa hợp lý cần được khắc phục. Mặc khác, để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, trẻ cần được ăn nhiều bữa trong ngày vì trẻ nhỏ không thể ăn một lần với khối lượng lớn như trẻ lớn hoặc người lớn. Điều này có liên quan đến vấn đề chăm sóc trẻ.

Người mẹ bị suy dinh dưỡng : Người mẹ trước và trong khi mang thai ăn uống không đầy đủ dẫn đến bị suy dinh dưỡng và có thể đẻ ra đưa con nhẹ cân, còi cọc. Đứa trẻ bị suy dinh dưỡng từ trong bào thai sẽ dễ bị suy dinh dưỡng sau này. Người mẹ bị suy dinh dưỡng, ăn uống kém trong những tháng đầu sau đẻ dễ bị thiếu sữa hoặc mất sữa, do đó đứa con dễ bị suy dinh dưỡng.

Các bệnh nhiễm khuẩn như viêm đường hô hấp, tiêu chảy, các bệnh ký sinh trùng: Đây là tình trạng hay gặp ở nước ta. Chế độ nuôi dưỡng không hợp lý khi trẻ bệnh là một nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng sau mắc bệnh ở trẻ dưới 5 tuổi.

Thiếu chăm sóc hay đứa trẻ bị "bỏ rơi": Ngoài chăm sóc về ăn uống, đứa trẻ cần chăm sóc về sức khoẻ (tiêm chủng, phòng chống nhiễm khuẩn), chăm sóc về tâm lý, tình cảm và chăm sóc về vệ sinh. Môi trường sống ở gia đình bị ô nhiễm, sử dụng nguồn nước không sạch để nấu ăn, tắm giặt cho trẻ, sử lý nước thải, phân, rác không đảm bảo là những yếu tố dẫn đến suy dinh dưỡng.

4. Những đứa trẻ nào dễ bị suy dinh dưỡng?

Trẻ từ 6-24 tháng: thời kỳ có nhu cầu dinh dưỡng cao, thời kỳ thích ứng với môi trường, thời kỳ nhạy cảm với bệnh tật.

Trẻ không được bú sữa mẹ hoặc không đủ sữa.

Trẻ đẻ nhẹ cân (<2500g), trẻ="" để="" sinh="" đôi,="" sinh="">

Trẻ ở gia đình đông con, điều kiện vệ sinh kém, gia đình không hoà thuận.

Trẻ hiện đang mắc các bệnh nhiễm khuẩn như: bệnh sởi, tiêu chảy hay viêm đường hô hấp …

5. Cần làm gì để phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại mỗi gia đình?

Muốn phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, cần có sự hiểu biết, chủ động và thay đổi thực hành của mỗi gia đình. Do đó, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng lấy gia đình là đối tượng thực hiện công tác chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em. Mọi gia đình đều hưởng ứng và thực hiện 8 nội dung cụ thể sau đây:

Chăm sóc ăn uống của phụ nữ có thai để đạt mức tăng cân 10-12 cân trong thời gian có thai. Khám thai ít nhất 3 lần, tiêm đủ 2 mũi phòng uốn ván.

Cho trẻ bú sớm trong nửa giờ đầu sau khi sinh, bú hoàn toàn sữa mẹ trong 4 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 18-24 tháng.

Cho trẻ ăn bổ sung (ăn sam, dặm) từ tháng thứ 5. Tô màu đĩa bột, tăng thêm chất béo (dầu, mỡ, lạc, vừng). ăn nhiều bữa.

Thực hiện phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng: Phụ nữ có thai uống viên sắt/ acid folic hàng ngày. Trẻ em 6-36 tháng uống  vitamin  A liều cao 2 lần một năm. Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn (tiêu chảy, viêm đường hô hấp). Thực hiện tiêm phòng đầy đủ. Chăm sóc và nuôi dưỡng hợp lý trẻ bị bệnh.

Phát triển ô dinh dưỡng trong hệ sinh thái VAC (vườn, ao, chuồng) để có thêm  thực phẩm  cải thiện bữa ăn gia đình. Chú ý nuôi gà, vịt để trứng, trồng rau ngót, đu đủ, gấc.

Phấn đấu bữa ăn nào cũng có đủ 4 món cân đối. Ngoài cơm (cung cấp năng lượng), cần có đủ 3 món nữa là: rau quả (cung cấp vitamin, chất khoáng và chất xơ); đậu phụ, vừng lạc, cá, thịt, trứng (cung cấp chất đạm, béo) và canh cung cấp nước và các chất dinh dưỡng bổ sung giúp ăn ngon miệng.

Thực hiện vệ sinh môi trường, dùng nguồn nước sạch, tẩy giun theo định kỳ, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiểu tiện. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm, thức ăn không là nguồn gây bệnh.

Thực hiện gia đình hạnh phúc, có nếp sống văn hoá, năng động, lành mạnh. Có biểu đồ tăng trưởng để theo dõi sức khoẻ của trẻ. Không có trẻ suy dinh dưỡng, không sinh con thứ ba.

THEO TT_BYT

, ,

Nên Làm Gì Khi Men Gan Tăng Cao

Men gan có một vai trò vô cùng quan trọng vì chúng tham gia vào các quá trình chuyển hoá quan trọng các chất trong cơ thể. Khi men gan bị rối loạn, nhất là men gan tăng cao, phải hết sức lưu ý tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp xử trí thích hợp.

http://webadmin.hongngochospital.vn/Company/BackEnd/RadEditor/Upload/2010/08/25/KSKDK1.jpg

Nguyên nhân làm men gan tăng cao

Sự gia tăng men gan nổi trội nhất là viêm gan cấp tính đặc biệt là viêm gan cấp do siêu vi. Trong viêm gan cấp tính do siêu vi, có khi men gan tăng gấp từ 10 - 20 lần. Đối với viêm gan mạn tính thể tiến triển hoặc xơ gan hoặc viêm gan tự miễn thì men gan cũng có thể gia tăng. Đây cũng là một trong các tiêu chuẩn để đánh giá là viêm gan mạn tính tiến triển hay người lành mang virut viêm gan. Các nguyên nhân khác làm tổn thương tế bào gan như rượu (đặc biệt là trong các trường hợp nghiện rượu), sốt rét, ung thư gan, ngộ độc hoá chất cũng làm cho men gan gia tăng một cách đáng kể. Bệnh về đường mật cũng có liên quan mật thiết với gan, nhất là các bệnh do sỏi đường dẫn mật, giun chui ống mật, viêm đường mật. Các nguyên nhân này thường làm cho đường dẫn mật phù nề hoặc tắc nghẽn dịch mật khó lưu thông tác động đến tế bào gan và vì vậy làm cho men gan gia tăng. Ngoài ra người ta cũng nhận thấy có một số nguyên nhân ngoài gan như các bệnh nhiễm khuẩn nặng (bệnh sởi, Rubella, nhiễm khuẩn huyết) hoặc một số thuốc cũng có thể làm gia tăng men gan. Đối với thuốc, có một số có tác động rất lớn đến gan, thậm chí gây độc cho gan, điển hình nhất là một số thuốc chống vi khuẩn lao (INH, rifamixin…), thuốc thuộc nhóm fluoquinolon (ciprofloxacin), acetaminophen (paracetamol, tydol, efferalgan…). Khi ngộ độc do thuốc cũng có thể làm men gan gia tăng. Tuy vậy, trong một số trường hợp, mặc dù men gan tăng nhưng không phải từ gan mà bởi các lý do khác, ví dụ hoạt động thể lực mạnh. Vì vậy trong thực tế, người ta thấy rằng khi xét nghiệm máu thấy men gan tăng, nhất là trường hợp men gan tăng cao là cần phải xem xét, cân nhắc kỹ càng hơn và đặc biệt lưu ý đến gan, mật.

Khi men gan tăng, nên làm gì?

Nếu tình cờ phát hiện men gan trong máu gia tăng, đặc biệt là tăng gấp đôi chỉ số bình thường (trên 40U/l) thì cần đi khám bệnh để bác sĩ xác định nguyên nhân. Hiện nay, khi thấy men gan trong máu tăng thì việc đầu tiên nên nghĩ đến là người đó có bị nhiễm virut viêm gan hay không, vì vậy cần làm xét nghiệm tìm nguyên nhân. Trong các loại viêm gan do siêu vi thì viêm gan B, C có thể dùng phương pháp xét nghiệm nhanh để nhận xét sơ bộ. Riêng viêm gan do virut B, ngoài xét nghiệm xem HBsAg khi có dương tính còn cần làm thêm xét nghiệm HBeAg, HBsAb, antiHBeAg… Nếu có điều kiện thì cần xét nghiệm đánh giá ADN của virut. Khi đã xác định được nguyên nhân thì nên nghe theo tư vấn của bác sĩ khám bệnh cho mình. Nếu men gan tăng do viêm tắc đường dẫn mật thì cần được điều trị triệt để nguyên nhân. Người bị tăng men gan nên đi kiểm tra sức khoẻ định kỳ để được bác sĩ theo dõi và đánh giá sự tiến triển của bệnh. Trong ăn uống hằng ngày, cần kiêng rượu, bia và các loại nước giải khát có cồn, nhất là người đang mắc bệnh về gan (viêm gan cấp, mạn hoặc người lành mang virut viêm gan), mật (sỏi mật, giun chui ống mật, viêm đường dẫn mật) hoặc đã từng mắc bệnh sốt rét. Không nên hút thuốc lá, thuốc lào. Chế độ ăn cũng cần được lưu ý, ví dụ như không ăn mỡ động vật, các loại thức ăn chiên, xào. Khi xét nghiệm máu thấy men gan tăng trong khi đang dùng một loại thuốc nào đó cũng nên cho bác sĩ khám bệnh và theo dõi sức khoẻ cho mình biết để bác sĩ có phương án giải quyết. Ngoài ra cũng nên vận động cơ thể một cách nhẹ nhàng trừ khi đang bị viêm gan cấp tính.

Bệnh viêm thanh quản ở trẻ nhỏ

Bệnh viêm thanh quản là một tên gọi chung cho tất cả những bệnh viêm nhiễm sảy ra ở thanh quản, khí quản, phế quản. Đây là một căn bệnh khá phổ biến và thường xảy ra ở trẻ nhỏ (chủ yếu xảy ra ở trẻ dưới 6 tuổi), may mắn là ít khi để lại hậu quả nghiêm trọng. Tuy vậy chứng bệnh này cũng gây nhiều khó chịu cho trẻ và có thể gây ra các biến chứng.

Tổng quan về bệnh viêm thanh quản

Khi bị nhiễm trùng thanh quản, trẻ thường ho sặc sụa. Nó làm cho đường hô hấp bị viêm và sưng lên, gây ra đờm ở họng và mũi, làm cho việc hít và thở bị khó khăn.

Khoảng 3% trẻ em bị mắc bệnh này mỗi năm. Bệnh chủ yếu xảy ra ở trẻ dưới 6 tuổi, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi. Điều này là bởi vì ở tuổi này, khí quản và đường hô hấp của trẻ thường nhỏ hơn và do đó chúng có nhiều khả năng nhiễm bệnh hơn. Trẻ có nhiều khả năng bị mắc bệnh này nhiều lần. Bệnh thường xảy ra trong mùa thu và mùa xuân.

Các triệu chứng của viêm thanh quản

Triệu chứng rõ ràng nhất của viêm thanh quản là ho sặc sụa, có thể trẻ bị ho từ đêm. Trẻ có thể bị chảy nước mũi, đau họng và sốt nhẹ (38-39°C) trong một vài ngày trước khi bắt đầu ho.

Các triệu chứng khác của viêm thanh quản, bao gồm:

  • Phát ra âm thanh cọt kẹt khi hít vào hoặc thở khò khè khi thở ra.
  • Khàn cổ họng.
  • Có vấn đề về hô hấp.
  • Ngực phập phồng trong quá trình hô hấp.
  • Sốt cao ( có thể 40°C hoặc cao hơn).

Các triệu chứng này có thể nặng hơn vào ban đêm. Các triệu chứng thường kéo dài từ ba đến bảy ngày, thậm chí có thể đến hai tuần.

Tuy nhiên các triệu chứng này cũng có thể được gây ra bởi các vấn đề khác liên quan đến thanh quản. Vì vậy bạn cần đưa trẻ đển khám để xác định chính xác tình trạng bệnh của trẻ.

Bệnh viêm thanh quản ở trẻ nhỏ

Trẻ bị viêm thanh quản nặng có thể dẫn đến nhiễm trùng tai hoặc viêm phổi.

Các biến chứng của viêm thanh quản

Viêm thanh quản thường kéo dài không quá 3 ngày. Tuy nhiên, ở một số trẻ bị viêm thanh quản nặng có thể dẫn đến nhiễm trùng tai hoặc viêm phổi.

Nếu nhiễm trùng nặng có thể dẫn đến hẹp đường hô hấp làm cho trẻ không thể thở được. Nếu thấy trẻ khó thở cần kịp thời đưa trẻ đến bệnh viện để điều trị.

Bạn cần liên hệ với bác sĩ ngay lập tức nếu tình trạng của trẻ bị nặng hơn. Bạn nên gọi xe cấp cứu khẩn cấp nếu trẻ có hiện tượng ngất xỉu, không thể thở được, da ở xung quanh miệng có màu xanh hoặc da xung quanh cổ hoặc lồng ngực của trẻ co rút lại.

Nguyên nhân của viêm thanh quản

Nguyên nhân chủ yếu của viêm thanh quản ở trẻ là do virut thâm nhập vào thanh quản của trẻ gây ra. Có rất nhiều virut khác nhau, kể cả các virut ở đường hô hấp, virut gây bệnh sởi… có thể gây viêm thanh quản. Đôi khi bệnh có thể được gây ra bởi vi khuẩn.

Chẩn đoán viêm thanh quản

Các bác sỹ sẽ dựa trên các triệu chứng của trẻ và lịch sử bệnh của trẻ để chẩn đoán viêm thanh quản ở trẻ.

Việc trẻ bị thở khò khè và mắc các vấn đề hô hấp khác cũng có thể được gây ra bởi trẻ bị hóc vật gì đó trong họng hoặc mắc các vấn đề về hô hấp khác. Nếu các bác sỹ khám cho trẻ không chắc chắn những gì đang gây ra các triệu chứng đó thì họ có thể chuyển trẻ sang khám ở các bác sĩ phẫu thuật tai, mũi, họng.

Phòng chống viêm thanh quản

Bệnh viêm thanh quản ở trẻ có thể lây lan qua đường hô hấp. Đồng thời bệnh cũng có thể lây lan qua việc chạm tay hoặc mũi vào một bề mặt đã bị ô nhiễm. Vì vậy bạn cần vệ sinh sạch sẽ tay chân cho trẻ, tránh để trẻ tiếp xúc với người bệnh.

Điều trị viêm thanh quản

Hầu hết những trẻ có chuyển biến tốt dần lên trong khoảng 1 vài ngày thì không cần phải điều trị. Nếu bệnh kéo dài hơn hoặc tình trạng bệnh nặng thì cần điều trị kịp thời.

Cha mẹ làm gì để giúp trẻ?

Bạn cần cho trẻ uống nước thường xuyên để đảm bảo trẻ không bị mất nước hoặc thiếu nước. Việc cho trẻ đứng hoặc ngồi thẳng đầu nhiều hơn sẽ tốt hơn là để trẻ nằm vì trẻ sẽ thở tốt hơn.

Việc xông hơi nước vào mũi đã được sử dụng trong nhiều năm để điều trị viêm thanh quản, nhưng chưa có bằng chứng khoa học để chứng minh rằng nó thực sự tốt.Tuy nhiên nếu trẻ bị viêm nhẹ thì nó sẽ hữu ích trong việc làm cho trẻ cảm thấy thoải mái hơn.

Bạn có thể mở vòi nước nóng trong phòng tắm để nước chảy và đóng cửa phòng tắm lại để giữ lấy hơi nước sau đó cho trẻ đứng trong đó hít thở hơi nước đó nó sẽ làm trẻ dễ chịu hơn nhưng bạn cần ở bên cạnh trẻ, đề phòng trẻ nghịch nước hoặc bị bỏng vì nước quá nóng.

Thuốc

Việc sử dụng thuốc cho trẻ trong trường hợp này cần tuyệt đối tuân theo ý kiến bác sỹ. Bạn nên đưa trẻ đi khám và mua thuốc theo chỉ dẫn của bác sỹ, không nên tự ý mua thuốc về để điều trị từng triệu chứng của trẻ như ho, nghẹt mũi….

Việc đến bệnh viện để điều trị

Bạn cần liên hệ với bác sĩ ngay lập tức nếu tình trạng của trẻ bị nặng hơn. Bạn nên gọi xe cứu thương khẩn cấp nếu trẻ có hiện tượng ngất xỉu, không thể thở được, da ở xung quanh miệng có màu xanh hoặc da xung quanh cổ hoặc lồng ngực của trẻ co rút lại. Các bác sĩ có thể giúp trẻ có thêm nhiều oxy bằng cách sử dụng ống dẫn oxy cho trẻ thở. Sau đó các bác sỹ sẽ điều trị cho trẻ bằng cách tiêm hoặc cho trẻ uống thuốc. Nếu tình trạng bệnh không giảm thì các bác sỹ có thể sẽ dùng đến ống để dẫn khí vào khí quản để giúp trẻ thở.