Sử dụng vitamin (2): Ngộ độc vì dùng quá liều

GiadinhNet - "Dùng vitamin đã tốt rồi, dùng nhiều còn tốt hơn".

Với suy nghĩ như vậy, chị Thùy Linh (Kiến An, Hải Phòng) đã mua các loại vitamin về cho cả gia đình dùng "xả láng". Tuy nhiên, mức độ sử dụng quá "nhiệt tình" của chị đã khiến cả gia đình phải nhập viện. Khi bác sĩ kết luận nguyên nhân do lạm dụng vitamin quá liều, chị vẫn không thể hiểu tại sao thuốc bổ lại hóa thành thuốc độc.

Lưu ý khi sử dụng vitamin A:

Khi vitamin A có nguồn gốc động vật (Retinol), cung cấp cho cơ thể vượt quá nhiều lần nhu cầu hàng ngày trong thời gian dài, sẽ gây ra những tác hại cho cơ thể như:

-Gây độc tính cho gan;
- Gây khuyết tật cho thai nhi;
- Tiêu chảy; > Buồn nôn;
- Chóng mặt; > Tóc rụng;
- Khô da; > Chán ăn;
- Rối loạn sắc tố da;
- Loãng xương...

Lợi bất cập hại

Trường hợp sử dụng vitamin một cách "thoải mái" như chị Linh không phải là hiếm. Bởi phần lớn mọi người đều nghĩ rằng vitamin là thuốc bổ nên có thể dùng bao nhiêu tùy thích. Song theo các bác sĩ, việc lạm dụng vitamin vừa gây lãng phí vừa có hại cho sức khỏe

Bà Bạch Liên (thị trấn Chũ, Bắc Giang) là "tín đồ" của vitamin C. Bà thường mua hàng chục lọ viên sủi C để uống. Thấy công dụng của vitamin C là vừa giúp cơ thể có sức đề kháng, vừa có tác dụng làm đẹp da nên bà Liên có thói quen uống vitamin C trường kỳ. Thời gian gần đây do quá đau ở phần phụ, bà đi khám, siêu âm thì được biết, cả hai bên thận đều có nhiều sỏi. Một viên sỏi đã theo nước tiểu xuống niệu đạo và mắc kẹt lại đó khiến bà đau đớn. Trong quá trình thăm khám và hỏi cặn kẽ về thói quen và chế độ ăn uống, bác sĩ đã cho bà biết do dùng vitamin C liều cao (2 viên - 1000mg/ngày) nên bà đã có nguy cơ sỏi thận từ trước đã khiến bệnh tiến triển và nghiêm trọng hơn.

Tại bệnh viện nơi bà Liên đến khám, có trường hợp một cháu nhỏ bị ngộ độc vitamin C do bố mẹ cho cháu dùng quá liều khiến cháu bị "sốc" phải đi cấp cứu. Trường hợp chị Phan (Tiên Lữ, Hưng Yên) đang mang thai ở tuần thứ 20 luôn thấy người mệt mỏi nên mua thuốc bổ vitamin C dạng sủi để tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, uống đến hộp thứ ba thì chị thấy người càng mệt mỏi bụng, hông, lưng nhiều hơn và phải nhập viện.

Không chỉ bị ngộ độc hoặc phản ứng phụ bởi riêng vitamin C, ở các bệnh viên đều ghi nhận nhiều trường hợp phải cấp cứu và điều trị vì sử dụng vitamin không đúng cách. Có nhiều người vì mục đích làm đẹp đã sử dụng vitamin E quá liều gây ra tiêu chảy, đau bụng, rối loạn tiêu hóa; cơ thể mệt mỏi, suy nhược. Do thiếu hiểu biết, có sản phụ đã bổ sung vitamin A gây dị dạng ở thai nhi. Có cháu nhỏ do mẹ quên nên đã dùng vitamin A không đúng định kỳ đã khiến con bị còi xương, chậm lớn...

Nhìn chung, các trường hợp phải đến bệnh viện để cấp cứu hoặc điều trị do dùng quá liều vitamin đều do thiếu kiến thức. Hầu hết mọi người đều lầm tưởng, thuốc bổ thì dùng đã tốt rồi, dùng nhiều sẽ càng tốt hơn. Tuy nhiên, các thầy thuốc khuyến cáo: Bất kể là thuốc bổ, khi sử dụng đều phải theo đơn và có sự hướng dẫn của bác sĩ. Nếu mọi người tự ý mua và tự ý sử dụng thì nhiều khi lợi đâu không thấy lại "tiền mất, tật mang".

Hậu quả khó lường

Có thể thấy, thiếu vitamin cơ thể sinh bệnh nhưng thừa và quá liều cũng gây ra vô vàn rắc rối.

Khi chế độ dinh dưỡng không cung cấp đủ vitamin A hoặc một số bệnh lý nhiễm khuẩn như: bệnh sởi, viêm đường hô hấp, tiêu chảy... gây rối loạn hấp thu vitamin A, sẽ dẫn đến sự thiếu hụt vitamin A trong cơ thể và gây ra bệnh quáng gà, khô mắt, trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến mù lòa. Nhưng khi dùng vitamin A quá liều thì gây độc tính cho gan, gây loãng xương,... Đặc biệt là đối với phụ nữ mang thai, có thể gây khuyết tật cho thai nhi. Với vitamin A có nguồn gốc thực vật (beta-caroten) khi cung cấp dư thừa sẽ gây nên hiện tượng vàng da. Khi ngưng sử dụng một thời gian, hiện tượng này sẽ biến mất.

Cơ thể con người từ khi được hình thành trong bụng mẹ, bộ khung xương rất quan trọng. Chính vì vậy, việc bổ sung vitamin D là cực kỳ cần thiết. Vitamin D (ergocalciferol D2, cholecalcciferol D3) điều hòa sự chuyển hóa canxi tới 50-80% nhu cầu chuyển hóa cần thiết cho sự hình thành và phát triển của xương. Do đó, nếu thiếu vitamin D sẽ dẫn tới còi xương, cơ thể còi cọc, không phát triển. Tuy nhiên dùng với liều cao D2, D3 phòng bệnh lại có thể gây ngộ độc. Do tác dụng cố định canxi trong xương nên phụ nữ có thai dùng nhiều vitamin D có thể sinh ra những đứa con có khuyết tật về xương...

Đối với vitamin C và E, các bác sĩ khuyến cáo: Có thể dùng vitamin C liều cao nhưng cũng chỉ nên dùng từ 5-10 ngày vì dùng vitamin C liều cao trong thời gian dài có nguy cơ gây sỏi thận hoặc bệnh sỏi thận trở nên nghiêm trọng hơn. Dùng vitamin C theo đường tiêm có thể gây ra "sốc" nguy hiểm, có thể dẫn đến tử vong. Còn việc chị em hiện nay quá "sùng bái" các sản phẩm có vitamin E nhằm kéo dài tuổi thanh xuân cũng phải lưu ý: Ở liều cao (trên 400 IU/ngày), vitamin E lại thúc đẩy các tổn hại do quá trình oxy hóa gây ra và khống chế các tác nhân chống lão hóa khác.

Theo các chuyên gia, người có tuổi dùng vitamin E đúng chỉ định sẽ có thể thấy ngay dụng của thuốc: làm da sáng hơn, có cảm giác khỏe khoắn hơn. Tuy nhiên, đối với những người còn trẻ, sức khỏe bình thường, việc dùng nhiều chất này là không cần thiết. Có những phụ nữ mới 30 - 35 tuổi đã tiêm vitamin E thường xuyên, coi việc này cũng giống như sử dụng mỹ phẩm để phòng ngừa nhăn da và xuống sắc. Điều đó không những gây hao phí tiền của mà còn dễ dẫn đến tình trạng nhờn thuốc, đến khi cần tác động thực sự thì phải dùng tới liều cao.

Mai Anh

35 bệnh mới tấn công thế giới

Đây là lần đầu Việt Nam đăng cai tổ chức hội nghị của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương. Ảnh: Dương Ngọc.

Tổ chức Y tế thế giới lo ngại 35 bệnh mới nổi 10 năm qua là vấn nạn trong tương lai. Bò điên, HIV/AIDS, SARS, cúm A/H5N1, cúm/A H1N1, tiêu chảy tán huyết do Ecoli, sốt xuất huyết, tay chân miệng... có tên trong danh sách.

  • Phát hiện bệnh mới triệu chứng như AIDS

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh mới nổi là bệnh mới xuất hiện lần đầu hoặc có thể đã tồn tại trước đó nhưng tăng nhanh về số mắc hoặc khu vực địa lý. Trong đó một số bệnh như bò điên, HIV/AIDS, SARS, đại dịch cúm A (H5N1), cúm A(H1N1), tiêu chảy tán huyết do E.coli, sốt xuất huyết, tay chân miệng được xem là bệnh mới nổi với số ca mắc tăng cao và xảy ra tại nhiều quốc gia.

Bên cạnh đó, thập niên qua, một số bệnh mới phát sinh, chưa rõ nguyên nhân cũng được Tổ chức Y tế thế giới (WTO) ghi nhận như hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân, hội chứng suy giảm miễn dịch không phải do lây nhiễm HIV/AIDS.

Những bệnh mới nổi, không rõ nguyên nhân là thách thức đối với các nhà khoa học và ảnh hưởng lớn đối với sức khỏe người dân.

Phát biểu tại lễ khai mạc hội nghị khu vực Tây Thái Bình Dương lần thứ 63 của WHO diễn ra ở Hà Nội sáng 24/9, Tiến sĩ Shin Young Soo, Giám đốc WHO tại khu vực Tây Thái Bình Dương lo ngại: "Sự xuất hiện của hơn 35 loại bệnh mới trong 10 năm trở lại đây đang là vấn nạn lớn toàn cầu". Đây cũng là lý do chương trình nghị sự kéo dài một tuần của WHO lần này sẽ dành thời gian để bàn về ảnh hưởng của các dịch bệnh mới.

Đây là lần đầu tiên Việt Nam đăng cai tổ chức hội nghị khu vực Tây Thái Bình Dương của WHO. Tại lễ khai mạc, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến khẳng định: "Trong những năm qua, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn. Các chỉ số phát triển con người vì thế cũng cao hơn so với một số quốc gia có cùng mức thu nhập bình quân tính trên đầu người".

Việt Nam cũng đã sản xuất thành công văcxin H5N1, đang thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3. Văcxin H1N1 nghiên cứu sản xuất trên quy mô phòng thí nghiệm. Văcxin sốt xuất huyết dengue đang thử nghiệm ở giai đoạn 3, hy vọng đến năm 2015 sẽ có.

Tiến sĩ Margaret Chan, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đánh giá: "Việt Nam đang là một trong những mô hình giảm nghèo thành công nhất thế giới. Y tế, sức khỏe được coi là một trong những thành tựu nổi bật của quốc gia này".

"Tuy nhiên, công việc của người phụ trách về chính sách y tế cộng đồng sẽ ngày càng khó hơn, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn. Chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều 'cuộc chiến' mà có thể kết quả không như mong muốn", bà Chan nhấn mạnh.

Tiến sĩ Shin Young Soo cũng cho biết, ước tính mỗi năm trong khu vực có khoảng 105 triệu người phải gánh chịu những khoản chi phí lớn và hơn 70 triệu người rơi vào cảnh đói nghèo do hậu quả của khám chữa bệnh mang lại. Nhiều nước trong khu vực có mức chi phí từ túi tiền người bệnh cao nhất thế giới, đòi hỏi phải có sự hợp tác về y tế giữa các quốc gia trong khu vực.

Hội nghị khu vực Tây Thái Bình Dương của Tổ chức Y tế Thế giới họp định kỳ hằng năm, nhằm giải quyết các vấn đề y tế trọng điểm của khu vực. Các chủ đề chính được thảo luận năm nay gồm sự gia tăng của các bệnh không truyền nhiễm, phòng chống bạo lực và thương tích, các bệnh nhiệt đới bị lãng quên, thanh toán bệnh sởi...

Tham dự có Bộ trưởng Y tế từ 35 quốc gia và các vùng lãnh thổ trong khu vực như Singapore, Nhật Bản, Malaysia, Hàn Quốc, HongKong, Trung Quốc... Hội nghị sẽ diễn ra từ ngày 24 đến 28/9.

Nguồn: Vnexpress

Men gan tăng, cảnh báo bệnh gì?

Men gan tăng, cảnh báo bệnh gì?

Men gan nằm trong tế bào gan và chúng tham gia vào các quá trình chuyển hoá quan trọng các chất trong cơ thể. Vì vậy, men gan có một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mỗi người. Khi men gan bị rối loạn, nhất là men gan tăng cao , phải hết sức lưu ý tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp xử trí thích hợp.

Nguyên nhân làm tăng  men gan

Bất kỳ người bình thường nào cũng có men gan. Men gan có 4 loại, đó là AST (aspartate transaminase) hoặc còn được gọi là SGOT (serum glutamic oxaloacetic transaminase). Loại thứ 2 là ALT (alanin transaminase) hay còn gọi là SGPT (serum glutamic pyruvic transaminase), hai loại này có trong tế bào gan. Khi gan bị viêm hoặc bị tổn thương thì hai loại men gan này bị rò rỉ vào dòng máu làm cho chỉ số men gan tăng. Loại men gan thứ 3 là alkalin phosphatase có trong màng tế bào gan và loại thứ 4 là GGT (gamma glutamyl transpeptidase) có trong thành của tế bào ống mật. Ở người bình thường, hai loại men gan SGPT và SGOT do tế bào gan sản sinh ra và chúng có hàm lượng cố định trong máu khoảng dưới 40U/l huyết thanh. Qua các nghiên cứu, người ta rút ra rằng khi men gan tăng từ 1 – 2 lần là ở mức độ nhẹ, tăng từ trên 2 – 5 lần là mức độ trung bình và tăng trên 5 lần là ở mức độ nặng. Tỷ lệ ALT và AST có thể mang lại thông tin có giá trị về mức độ và nguyên nhân đối với bệnh của gan. Hầu hết bệnh về gan thì ALT (SGPT) cao hơn AST (SGOT) nhưng trong bệnh xơ gan và nghiện rượu thì mức tăng AST cao hơn ALT (thường tỷ lệ này là 2:1). Khi gan bị viêm hoặc chấn thương vì bất kỳ một lý do nào đó hoặc do tổn thương ở đường dẫn mật làm ứ trệ sự lưu thông của dịch mật thì tế bào gan sẽ gia tăng sản sinh và bài tiết men gan. Sự gia tăng men gan nổi trội nhất là viêm gan cấp tính đặc biệt là viêm gan cấp do siêu vi. Trong viêm gan cấp tính do siêu vi, có khi men gan tăng gấp từ 10 - 20 lần. Đối với viêm gan mạn tính thể tiến triển hoặc xơ gan hoặc viêm gan tự miễn thì men gan cũng có thể gia tăng. Đây cũng là một trong các tiêu chuẩn để đánh giá là viêm gan mạn tính tiến triển hay người lành mang virut viêm gan. Các nguyên nhân khác làm tổn thương tế bào gan như rượu (đặc biệt là trong các trường hợp nghiện rượu), sốt rét, ung thư gan, ngộ độc hoá chất cũng làm cho men gan gia tăng một cách đáng kể. Bệnh về đường mật cũng có liên quan mật thiết với gan, nhất là các bệnh do sỏi đường dẫn mật, giun chui ống mật, viêm đường mật. Các nguyên nhân này thường làm cho đường dẫn mật phù nề hoặc tắc nghẽn dịch mật khó lưu thông tác động đến tế bào gan và vì vậy làm cho men gan gia tăng. Ngoài ra người ta cũng nhận thấy có một số nguyên nhân ngoài gan như các bệnh nhiễm khuẩn nặng (bệnh sởi, Rubella, nhiễm khuẩn huyết) hoặc một số thuốc cũng có thể làm gia tăng men gan. Đối với thuốc, có một số có tác động rất lớn đến gan, thậm chí gây độc cho gan, điển hình nhất là một số thuốc chống vi khuẩn lao (INH, rifamixin…), thuốc thuộc nhóm fluoquinolon (ciprofloxacin), acetaminophen (paracetamol, tydol, efferalgan…). Khi ngộ độc do thuốc cũng có thể làm men gan gia tăng. Tuy vậy, trong một số trường hợp, mặc dù men gan tăng nhưng không phải từ gan mà bởi các lý do khác, ví dụ hoạt động thể lực mạnh. Vì vậy trong thực tế, người ta thấy rằng khi xét nghiệm máu thấy men gan tăng, nhất là trường hợp men gan tăng cao là cần phải xem xét, cân nhắc kỹ càng hơn và đặc biệt lưu ý đến gan, mật.

Men gan tăng chứng tỏ có vấn đề với gan và mật

Men gan tăng chứng tỏ có vấn đề với gan và mật (ảnh minh họa)

Khi men gan tăng, nên làm gì?

Nếu tình cờ phát hiện men gan trong máu gia tăng, đặc biệt là tăng gấp đôi chỉ số bình thường (trên 40U/l) thì cần đi khám bệnh để bác sĩ xác định nguyên nhân. Hiện nay, khi thấy men gan trong máu tăng thì việc đầu tiên nên nghĩ đến là người đó có bị nhiễm virut viêm gan hay không, vì vậy cần làm xét nghiệm tìm nguyên nhân. Trong các loại viêm gan do siêu vi thì viêm gan B, C có thể dùng phương pháp xét nghiệm nhanh để nhận xét sơ bộ. Riêng viêm gan do virut B, ngoài xét nghiệm xem HBsAg khi có dương tính còn cần làm thêm xét nghiệm HBeAg, HBsAb, antiHBeAg… Nếu có điều kiện thì cần xét nghiệm đánh giá ADN của virut. Khi đã xác định được nguyên nhân thì nên nghe theo tư vấn của bác sĩ khám bệnh cho mình. Nếu men gan tăng do viêm tắc đường dẫn mật thì cần được điều trị triệt để nguyên nhân. Người bị tăng men gan nên đi kiểm tra sức khoẻ định kỳ để được bác sĩ theo dõi và đánh giá sự tiến triển của bệnh. Trong ăn uống hằng ngày, cần kiêng rượu, bia và các loại nước giải khát có cồn, nhất là người đang mắc bệnh về gan (viêm gan cấp, mạn hoặc người lành mang virut viêm gan), mật (sỏi mật, giun chui ống mật, viêm đường dẫn mật) hoặc đã từng mắc bệnh sốt rét. Không nên hút thuốc lá, thuốc lào. Chế độ ăn cũng cần được lưu ý, ví dụ như không ăn mỡ động vật, các loại thức ăn chiên, xào. Khi xét nghiệm máu thấy men gan tăng trong khi đang dùng một loại thuốc nào đó cũng nên cho bác sĩ khám bệnh và theo dõi sức khoẻ cho mình biết để bác sĩ có phương án giải quyết. Ngoài ra cũng nên vận động cơ thể một cách nhẹ nhàng trừ khi đang bị viêm gan cấp tính.

PGS.TS. Bùi Khắc Hậu

Men gan tăng cao cảnh báo dấu hiệu điều gì?

Men gan nằm trong tế bào gan và chúng tham gia vào các quá trình chuyển hóa quan trọng các chất trong cơ thể. Men gan có một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mỗi con người. Men gan bình thường là men gan có các chỉ số đều đạt AST: 20 - 40 UI/L, ALT: 20 - 40 UI/L, GGT: 20 - 40UI/L, Phosphatase kiềm: 30 - 110 UI/L. Khi men gan rối loạn, nhất là men gan tăng cao, có thể là dấu hiệu cảnh báo trước bệnh nguy hiểm. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về men gan tăng cao.

Thế nào là men gan tăng cao?

Men gan bình thường là men gan có các chỉ số đều đạt AST: 20 - 40 UI/L, ALT: 20 - 40 UI/L, GGT: 20 - 40UI/L, Phosphatase kiềm: 30 - 110 UI/L. Qua các nghiên cứu, người ta rút ra rằng khi men gan tăng từ 1-2 lần là ở mức độ nhẹ, tăng từ trên 2 -5 lần là ở mức độ trung bình và tăng trên 5 lần là ở mức độ nặng.

Men gan tăng cao cảnh báo điều gì?

Dấu hiệu viêm gan

Căn cứ vào tỷ lệ ALT và AST, người ta có thể xác định các thông tin về mức độ và nguyên nhân đối với bệnh của gan. Hầu hết bệnh về gan thì ALT (SGPT) cao hơn AST (SGOT) nhưng trong bệnh xơ gan và nghiện rượu thì mức tăng AST cao hơn ALT (thường tỷ lệ này là 2:1). Khi gan bị viêm hoặc chấn thương vì bất kỳ một lý do nào đó hoặc do tổn thương ở đường dẫn mật làm ứ trệ sự lưu thông của dịch mật thì tế bào gan sẽ gia tăng sản sinh và bài tiết men gan. Sự gia tăng men gan nổi trội nhất là viêm gan cấp tính đặc biệt là viêm gan cấp do siêu vi. Trong viêm gan cấp tính do siêu vi, có khi men gan tăng gấp từ 10 - 20 lần. Đối với viêm gan mạn tính thể tiến triển hoặc xơ gan hoặc viêm gan tự miễn thì men gan cũng có thể gia tăng. Đây cũng là một trong các tiêu chuẩn để đánh giá là viêm gan mạn tính tiến triển hay người lành mang virut viêm gan.

Gan bị tổn thương

Nghiện rượu, sốt rét, ung thư gan, ngộ độc hoá chất cũng làm cho men gan gia tăng một cách đáng kể. Bệnh về đường mật cũng có liên quan mật thiết với gan, nhất là các bệnh do sỏi đường dẫn mật, giun chui ống mật, viêm đường mật. Các nguyên nhân này thường làm cho đường dẫn mật phù nề hoặc tắc nghẽn dịch mật khó lưu thông tác động đến tế bào gan và vì vậy làm cho men gan gia tăng.

Ngoài ra người ta cũng nhận thấy có một số nguyên nhân ngoài gan như các bệnh nhiễm khuẩn nặng (bệnh sởi, Rubella, nhiễm khuẩn huyết) hoặc một số thuốc cũng có thể làm gia tăng men gan. Đối với thuốc, có một số có tác động rất lớn đến gan, thậm chí gây độc cho gan, điển hình nhất là một số thuốc chống vi khuẩn lao (INH, rifamixin…), thuốc thuộc nhóm fluoquinolon (ciprofloxacin), acetaminophen (paracetamol, tydol, efferalgan…). Khi ngộ độc do thuốc cũng có thể làm men gan gia tăng. Tuy vậy, trong một số trường hợp, mặc dù men gan tăng nhưng không phải từ gan mà bởi các lý do khác, ví dụ hoạt động thể lực mạnh. Vì vậy trong thực tế, người ta thấy rằng khi xét nghiệm máu thấy men gan tăng, nhất là trường hợp men gan tăng cao là cần phải xem xét, cân nhắc kỹ càng hơn và đặc biệt lưu ý đến gan, mật.

Có thể bạn quan tâm: Cần làm gì khi men gan tăng cao?

Bé suýt chết vì 'kiêng gió, kiêng nước'

(Lam me) - Rất nhiều trẻ em bị nhiễm trùng da nghiêm trọng do "nhịn" tắm rửa.

 
yahoo

"Chết vì bệnh chứ không ai chết vì bẩn", với lập luận đó, ngay giữa thế kỷ 21, vẫn có rất nhiều người, đặc biệt là trẻ em, bị nhiễm trùng da nghiêm trọng sau một thời gian do sốt có phát ban mà nhịn tắm rửa, "bọc kín" trong quần áo, suốt ngày chỉ ru rú ở nơi kín gió.

Bài liên quan:

Tự lập: Chậm dạy con, mẹ lãnh đủ

3 điều tối kỵ khi dạy con tự lập

Tuyệt chiêu trị con mè nheo

"8 không": Bí quyết dạy trẻ vâng lời

Cháu Trung Tiến, 20 tháng tuổi, sống ở Hương Canh, Vĩnh Phúc, bị lên sởi. Gia đình đưa bé đi khám, được bác sĩ hướng dẫn cách theo dõi và điều trị tại nhà. Nhưng riêng chuyện tắm rửa cho cháu thì ông bà nội quyết định phải theo "kinh nghiệm của các cụ từ hàng nghìn năm nay", nghĩa là trẻ lên sởi phải tuyệt đối kiêng gió, kiêng nước. Ông bà bảo, nếu không kiêng được, các nốt đậu sẽ không "chín" để khỏi, mà chúng sẽ lặn vào trong cơ thể, làm bệnh nặng thêm, thậm chí chết người hoặc thành tật, sau này có sống cũng bệnh hoạn.

Vì thế, giữa mùa hè, cháu Tiến vẫn phải mặc quần áo dài, suốt ngày ở trong phòng đóng kín cửa sổ, thậm chí không được bật quạt. Người cháu đầm đìa mồ hôi, nhưng ông bà nội chỉ cho phép dùng khăn mềm thấm khô đi chứ không được lau rửa dù có bốc mùi. Thấy mẹ cháu xót ruột vì Tiến ngứa ngáy, quấy khóc suốt ngày đêm, bà nội trấn an: "Phải chịu khó ít hôm cho đến lúc khỏi hẳn, đừng có xót con mà tắm cho nó rồi sau lại ân hận cả đời".

Bé suýt chết vì 'kiêng gió, kiêng nước' - 1

Kiêng cữ quá không tốt cho trẻ. (ảnh minh họa)

Các nốt trên người  Tiến mãi không khỏi mà còn mưng mủ, người sốt cao, bà nội và mẹ mới tất tả đưa xuống Hà Nội khám. Nhìn đứa bé được bọc kín trong mấy lớp khăn áo giữa trời nóng bức, bác sĩ phải quát lên, bà nội mới chịu bỏ bớt ra. Bác sĩ khám và cho biết, bé Tiến bị nhiễm trùng da do cái sự "kiêng gió kiêng nước", nếu để lâu có thể nhiễm trùng máu mà tử vong. Sau khi điều trị, hiện cháu Tiến đã hồi phục, không phải chịu biến chứng nào của chứng viêm da và bệnh sởi, gia đình mới thấy hú hồn.

Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc, nguyên Phó giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, kiêng tắm rửa và tránh gió là sai lầm "cổ truyền" cực kỳ phổ biến ở Việt Nam, trong khi y học không có khuyến cáo kiêng tắm cho bất cứ bệnh nào. Ngay cả bệnh nhân nặng vẫn phải vệ sinh cơ thể sạch sẽ. Ở trẻ em, làn da vừa mỏng vừa nhạy cảm, sức đề kháng yếu, càng dễ viêm da, bội nhiễm vi khuẩn. Làn da khi bị sốt phát ban vốn đã có tổn thương, nếu lại bị ủ nhiều ngày trong mồ hôi và ghét bẩn, kèm thêm những vết trầy xước do gãi, lại càng dễ nhiễm trùng nặng.

Vì thế, bác sĩ Lộc khuyên, trẻ bị sốt phát ban vẫn cần được tắm sạch sẽ. Tuy nhiên do cơ thể trẻ còn yếu nên cần tắm nhanh. Vào mùa lạnh, nên tắm từng bộ phận bằng nước ấm rồi thấm khô ngay trước khi tiếp tục làm sạch phần khác, đồng thời tránh gió lùa khi tắm.

Theo Phạm Hoàng (Báo Đất Việt)

Sách dạy con: Trẻ bị sốt nên ở trần

(Lam me) - Có một vài 'thói quen' của cha mẹ đã vô tình gây hại cho trẻ khi bị sốt.

 
yahoo

Tâm lý tuổi chập chững là bộ sách khá nổi tiếng ở một số diễn đàn nuôi dạy trẻ và làm cha mẹ. Bộ sách này gồm 2 tập và tác giả là Tiến sĩ Christopher Green.

Cũng như các tài liệu khác, bộ sách viết và chia sẻ nhiều kinh nghiệm về tâm lý, cách dạy trẻ mẫu giáo cũng như dinh dưỡng cho trẻ, nhưng có một điều là cách nhìn nhận vấn đề ở một góc độ rất "đời thường", thực tiễn, gần gũi. Vì vậy, bạn có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh nhóc con nhà mình trong từng dòng chữ.

Để giới thiệu đến độc giả, Eva xin chọn lọc và trích đăng những phần hay nhất trong cuốn sách.

Phần 1: Tâm lý tuổi chập chững

Phần 2: 101 lý do trẻ ương bướng

Phần 3: "Kỹ nghệ" làm cha mẹ

Phần 4: Dinh dưỡng 'chuẩn' cho trẻ

Phần 5: Nước hoa quả, chả tốt đâu

Phần 6: Trị bé hay 'tí toáy' vùng kín

Phần 7: Bắt bệnh trẻ 'hiếu chiến'

Phần 8: Mẹ khéo bé sẽ yêu em

Phần 9: 'Thuốc' cho trẻ tăng động

Phần 10: Trẻ giỏi nhờ tập đọc sớm?

Phần 11: Đi làm vẫn đảm chăm con

Phần 12: Bệnh phổ biến ở trẻ tuổi chập chững

Phần 12: Bệnh phổ biến ở trẻ tuổi chập chững (P.2)

Sốt

Khi thân thể trẻ con bị nhiễm trùng do bị cảm lạnh hoặc bệnh gì đó nặng hơn thì thân nhiệt sẽ tăng lên. Một số bệnh, chẳng hạn bệnh sởi, gây sốt cao trong khi một số bệnh dù rất nặng nhưng không gây sốt. Sốt chỉ là dấu hiệu cho thấy trẻ bị bệnh, nhiệt độ cao không phải là thước đo mức độ trầm trọng của căn bệnh.

Sốt cao làm cho trẻ đang bệnh cảm thấy khổ sở hơn. Bố mẹ trẻ bắt đầu lo lắng vì trẻ con bị sốt thường dễ co giật. Chính vì hai lý do này, bố mẹ thường hốt hoảng khi thấy con sốt cao và làm bất kỳ điều gì có thể để giúp con.

Tuy nhiên, phải biết cách giúp trẻ, không được ủ ấm trẻ quá mức. Nên cho trẻ uống paraxêtamôn hoà tan trong nước (panadol) với liều phù hợp. Trẻ không ngại uống thuốc pha với nước này mà thuốc này cũng ít tác dụng phụ. Những báo cáo y khoa quốc tế gần đây chỉ trích việc sử dụng Aspirin cho trẻ nhỏ.

Sách dạy con: Trẻ bị sốt nên ở trần - 1

Có một vài 'thói quen' của cha mẹ đã vô tình gây hại cho trẻ khi bị sốt. (Ảnh minh họa).

Cho trẻ tắm nước lạnh ngay sau khi sốt không những quá vô lý mà còn phản tác dụng. Khi da trẻ tiếp xúc với nước lạnh, da sẽ phản ứng bằng cách ngừng cung cấp máu tới các bộ phận bị lạnh và hướng sang các vùng ấm áp hơn. Như vậy là cũng không giảm được nhiệt nơi trẻ mà lại làm cho trẻ khổ sở hơn. Cho trẻ trần truồng ngồi trước quạt cũng làm cách giảm nhiệt không mang lại kết quả, làm cho trẻ run lên và cảm thấy kinh khủng hơn.

Cách thích hợp duy nhất là cho trẻ ở trần và nếu nhiệt độ vẫn còn cao thì dùng nước mát lau người cho trẻ. Cách này vừa giúp trẻ hạ sốt dần, vừa không làm cho trẻ run và ngăn không cho da trẻ chuyển sang tái vì máu phân tán đi nơi khác.

Bài liên quan:

Bé bị sốt khi mọc răng: Ôi, chuyện nhỏ

Món ăn, đồ uống tăng lực cho trẻ bị sốt

Hiểu lầm tai hại khi chăm trẻ sốt

Hạ sốt hiệu quả cho bé theo dân gian

Thật là không công bằng với trẻ nhỏ. Khi chúng ta bị sốt thì chúng ta lên giường và bật tấm chăn điện sang chế độ mùa hè và tha hồ toát mồ hôi. Nhưng đối với trẻ con thì chúng ta lột trần chúng ra, lau người và quấy rầy chúng đủ kiểu. Dĩ nhiên, điểm khác nhau là vì chúng ta rất sợ trẻ con bị co giật vì sốt.

Co giật vì sốt

Một số trẻ có não rất nhạy cảm với nhiệt độ cao, vì thế chúng co giật. Chứng này phổ biến nhất trong giai đoạn từ 6 tháng đến 3 tuổi. 4% trẻ nhỏ khi sốt thường bị co giật. Tuy nhiên hiếm khi trẻ đã trên 5 tuổi co giật khi sốt. Hầu hết các bố mẹ đều lo lắng khi con họ bị cơn co giật, họ sợ con mình sẽ chết. Chứng này xảy ra rất nhanh và không hề báo trước, có khi trẻ chỉ mới sốt nhẹ. Trẻ cứng người lại, mắt trợn tròng và thở gấp. Rồi trẻ rung người hoặc giật trước khi trở lại bình thường dù vẫn còn đừ người và mê man. Sau đó trẻ cảm thấy rất buồn ngủ và sau khi ngủ dậy, trẻ hầu như hoàn toàn bình phục.

Rất may trẻ thường chỉ co giật chưa đầy 5 phút mặc dù bố mẹ trẻ chứng kiến và cảm thấy việc này kéo dài bất tận. Nếu trẻ sốt cao, dùng phương pháp làm mát và cho trẻ uống thuốc nói trên sẽ tránh được chứng co giật. Nếu trẻ vẫn co giật thì nên đặt trẻ nằm nghiêng để tránh cho trẻ không bị tắc nghẹn. Mặc dù khó khăn nhưng nên cố gắng bình tĩnh. Trẻ sẽ không chết, não không bị tổn thương vì co giật do sốt. Nên ở bên cạnh trẻ chứ không bỏ đi

tìm người giúp.

Không được nhét muỗng hoặc vật gì khác vào miệng trẻ vì không phải trẻ khó thở do nghẹt cuống họng mà các hô hấp cơ bị siết chặt. Nếu đó là lần đầu tiên trẻ co giật hoặc không kiểm soát thì nên đưa trẻ đến bác sỹ. Trẻ co giật do sốt không phải bị động kinh và thường không lặp lại trong suốt cuộc đời. Nếu trẻ đã co giật một lần khi sốt thì có thể lặp lại nhưng chỉ đến 5 tuổi là hết.

- Co giật ngắn do sốt không làm hại đứa trẻ, chỉ thử sức chịu đựng của bố mẹ chúng thôi.

- Co giật do sốt không phải là động kinh

- Cho trẻ nằm nghiêng

- Không được nhét bất kỳ vật gì vào miệng trẻ

- Không hốt hoảng (Tôi nói nghe dễ quá phải không?)

- Gọi bác sỹ nếu trẻ vẫn co giật sau năm phút.

Mời bạn đón đọc bài tiếp theo vào 5h00, ngày 31/8, trên chuyên mục Làm mẹ.

(Theo Ebook)

Sách dạy con: Bệnh quen ở trẻ mẫu giáo (P.1)

(Lam me) - Có hàng 'núi' bệnh luôn rình rập quanh trẻ tuổi chập chững, cha mẹ rất nên tìm hiểu.

 
yahoo

Tâm lý tuổi chập chững là bộ sách khá nổi tiếng ở một số diễn đàn nuôi dạy trẻ và làm cha mẹ. Bộ sách này gồm 2 tập và tác giả là Tiến sĩ Christopher Green.

Cũng như các tài liệu khác, bộ sách viết và chia sẻ nhiều kinh nghiệm về tâm lý, cách dạy trẻ mẫu giáo cũng như dinh dưỡng cho trẻ, nhưng có một điều là cách nhìn nhận vấn đề ở một góc độ rất "đời thường", thực tiễn, gần gũi. Vì vậy, bạn có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh nhóc con nhà mình trong từng dòng chữ.

Để giới thiệu đến độc giả, Eva xin chọn lọc và trích đăng những phần hay nhất trong cuốn sách.

Phần 1: Tâm lý tuổi chập chững

Phần 2: 101 lý do trẻ ương bướng

Phần 3: "Kỹ nghệ" làm cha mẹ

Phần 4: Dinh dưỡng 'chuẩn' cho trẻ

Phần 5: Nước hoa quả, chả tốt đâu

Phần 6: Trị bé hay 'tí toáy' vùng kín

Phần 7: Bắt bệnh trẻ 'hiếu chiến'

Phần 8: Mẹ khéo bé sẽ yêu em

Phần 9: 'Thuốc' cho trẻ tăng động

Phần 10: Trẻ giỏi nhờ tập đọc sớm?

Phần 11: Đi làm vẫn đảm chăm con

Phần 12: Bệnh phổ biến ở trẻ tuổi chập chững (P.1)

Đối với bố mẹ của trẻ con tuổi này thì hiếm có ngày nào mà trẻ không có bệnh này hoặc bệnh kia: viêm amidan, nhiễm trùng tai hoặc cảm lạnh thông thường. Trong quá trình phát triển, trẻ trải qua hàng loạt lần bị bệnh, mỗi lần bệnh trầm trọng hơn lần trước nhưng nói chung đây là quá trình bình thường và trong mọi trường hợp bạn không cần phải lo lắng quá. Muốn phòng ngừa thì nên trang bị trước những hiểu biết cần thiết. Chương này nói về những bệnh thông thường ở trẻ con.

Tuy nhiên, nếu bạn lo lắng thì hãy mang con đến bệnh viện khi con có những triệu chứng

nghiêm trọng.

Sách dạy con: Bệnh quen ở trẻ mẫu giáo (P.1) - 1

Có hàng 'núi' bệnh luôn rình rập quanh trẻ tuổi chập chững. (Ảnh minh họa).

Cảm lạnh thông thường

Cảm do một số vi rút gây ra thông qua đường lây truyền trong không khí. Người ta có cảm tưởng mũi cứ chảy liên tục. Bởi do vi rút gây ra, cho trẻ uống khánh sinh không giúp gì mà tự nó sẽ biến mất trong ba hoặc bốn ngày. Những ngày đầu khi trẻ vừa mới đi nhà trẻ, trẻ thường bị ho do lây viruts từ những đứa trẻ khác nhưng thường chỉ trong một thời gian thôi. Dần dần hệ thống miễn nhiễm tự nhiên của trẻ hình thành và số bệnh sẽ giảm dần mỗi năm cho đến khi trẻ trở thành người lớn.

Hầu hết sự miễn nhiễm tự nhiên mà đứa trẻ thừa hưởng từ mẹ sẽ hết lúc trẻ được 6 tháng tuổi vì thế mùa đông đầu tiên tiếp theo thường là mùa trẻ bị cảm lạnh lần đầu tiên.

Một đứa trẻ ở tuổi chập chững thông thường bị cảm 9 lần một năm, trong đó 6 lần là theo tần suất thông thường 8 tuần một lần. Trẻ bị cảm lạnh do lây lan từ những đứa trẻ khác ở nhà trẻ hoặc những người trẻ tiếp xúc, không phải do trẻ bị ướt hoặc bị lạnh. Dù có cố gắng sử dụng nhiều loại vitamin và thuốc khác nhau nhằm ngăn ngừa, bạn vẫn tuyệt đối không thể giúp trẻ tránh được cảm lạnh.

Ngoài ra rất dễ nhầm lẫn bởi vì cảm lạnh thường bắt đầu bằng những triệu chứng khác nhau như viêm họng, lùng bùng lỗ tai hoặc ho nhẹ. Nếu tất cả những triệu chứng này kết hợp với nhau thì rõ ràng đứa trẻ đã bị cảm lạnh, phân loại thành các bệnh riêng biệt là sổ mũi, viêm tai hoặc viêm phổi. Không có cách gì trị bệnh cảm lạnh mặc dù cho trẻ uống paraxetamon (panadol) sẽ làm trẻ cảm thấy dễ chịu hơn.

Sách dạy con: Bệnh quen ở trẻ mẫu giáo (P.1) - 2

Cảm do một số vi rút gây ra thông qua đường lây truyền trong không khí. (Ảnh minh họa).

Sưng amidan

Người lớn trên 25 tuổi hiếm khi bị sưng amidan bởi vì trong những năm trước họ đã được mổ cắt amidan. Ngày nay hiếm khi người ta mổ trừ khi có lý do đặc biệt. Sưng amidan không phải là viêm họng như lúc mới bị cảm lạnh mà là một sự nhiễm trùng các mô amidan ở cuối cuống họng và những hạch liên quan ở quai hàm. Cục amidan không chỉ đỏ mà còn sưng tấy lên và có những hột mủ. Bệnh này thường do vi trùng gây nên. Phải trị bằng kháng sinh, thuốc này rất công hiệu.

Quyết định phẫu thuật không tuỳ thuộc vào kích thước của cục amiđan bị sưng mà là tần số nhiễm trùng và mức độ viêm nhiễm của họng. Trẻ ở tuổi chập chững thường mắc bệnh này, cao điểm là vào năm 7 tuổi. Amidan lớn chưa hẳn là nguy hiểm và không gây khó khăn cho việc ăn uống.

Đau thanh quản

Đây là giai đoạn đầu của bệnh viêm thanh quản do vi rút gây nên, gây nhiễm vùng thanh quản của trẻ. Dùng thuốc kháng sinh không trị được và cách chữa tốt nhất là theo cách truyền thống: ngồi trong phòng xông hơi hoặc hít hơi nóng từ một một nồi nước hoặc người châu Á thì thích thêm chút dầu bạc hà cho thông cổ. Trẻ con bị đau thanh quản thường tạo ra âm thanh rè rè rất đặc trưng khi hít vào kèm theo tiếng ho ồm ồm như sư tử biển. Nếu bị nhẹ thì dùng phương pháp trên chữa cho chữa cho trẻ. Một số ít em có thể bị nặng hơn và nếu tình hình trở nên xấu hơn hoặc có những triệu chứng khác thường thì nên đến bác sĩ ngay lập tức.

Viêm cuống phối

Bệnh này cũng do viruts gây ra, lúc đầu trẻ sẽ ho nhưng dần dần lan đến ngực. Bệnh này không phản ứng với thuốc kháng sinh. Mặc dù ho nhiều nhưng trẻ vẫn vui vẻ và ít có vẻ bị bệnh. Nếu trẻ thở gấp và khò khè thì có thể trẻ đã bắt đầu chuyển sang hen suyễn. Cần phải đưa trẻ đến bệnh viện, nhất là khi có trẻ sốt cao và khó ở hơn vì như thế là có triệu trứng viêm ngực trầm trọng. Ở một số trẻ em viêm cuống phổi có thể là dấu hiệu đầu tiên của bệnh sởi, có thể trước cả khi các hột sởi bắt đầu xuất hiện.

Hen suyễn

Khoảng 20% trẻ con bị bệnh này. Dấu hiệu nhận dạng là tiếng khò khè phát ra từ buồng phổi, nhất là khi thở ra. Trẻ sẽ khổ sở hơn nếu bị nhiễm hô hấp, gây nên những trận ho khan kéo dài giữa đêm.

Nhiều phụ huynh chán nản khi nghe con bị suyễn, họ nghĩ ngay đến những ngày trẻ phải ở nhà, không đến nhà trẻ được, lo rằng con mình sẽ ốm yếu sau này và không thể tham gia các hoạt động thể thao. Ngày nay mọi trẻ em bị bệnh này đề có thể được chữa khỏi và sống cuộc sống bình thường, không thiệt thòi gì.

Sử dụng những loại thuốc làm thông đường hô hấp, nhất là các thuốc xông hơi và hít. Có thể tìm thấy những loại thuốc này trên thị trường, rất an toàn và hiệu quả, không mất công hiệu khi sử dụng lâu dài. Tôi không yêu cầu bệnh nhân của tôi phải kiểm soát sự dị ứng, bớt lượng sữa, kiểm soát lối sống và uống kháng sinh.

Mời bạn đón đọc bài tiếp theo vào 5h00, ngày 30/8, trên chuyên mục Làm mẹ.

(Theo Ebook)

Phân biệt sốt phát ban do rubella và sởi

Vnexpress -Hiện tại Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc, sốt phát ban do rubella đang vào đỉnh dịch, tuy nhiên trong số đó vẫn rải rác các ca mắc sởi. Sốt cao, nổi phát ban khắp người đều là triệu chứng của hai bệnh trên.

> Cảnh báo nhiều thai phụ nhiễm rubella

Trung bình mỗi ngày Bệnh viện Nhiệt đới trung ương tiếp nhận 70-100 ca đến khám. Trong đó, chủ yếu là sốt phát ban do virus rubella. Bệnh dễ gây biến chứng viêm não nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm với thai phụ, nhất là 3 tháng đầu của thai kỳ. Lý do là tỷ lệ dị dạng thai nhi trong giai đoạn này có thể là 25%, 40% thậm chí là 60%, khiếm khuyết về tim mạch, não, chậm phát triển...

Theo Thạc sĩ Nguyễn Hồng Hà, Phó Giám đốc Bệnh viện, những người bị sốt kèm theo triệu chứng mẩn đỏ khắp người là dấu hiệu của sốt phát ban do virus gây ra, có thể do rubella, sởi. Dựa trên biểu hiện lâm sàng vẫn có thể phân biệt hai bệnh này với nhau. Cụ thể:

Rubella (hay sởi Đức):

- Người bệnh có các biểu hiện: sốt, mệt mỏi, đau đầu, viêm kết mạc nhẹ và sưng hạch. Triệu chứng về hô hấp rất nhẹ hoặc không có.

- Sau 1-7 ngày sẽ nổi ban. Ban dạng dát sẩn nhỏ, màu sáng hơn so với ban sởi nhưng có thể kết hợp thành quầng đỏ, rộng. Ban tồn tại 1 – 5 ngày, hay gặp nhất là 3 ngày.

- Ngoài ra, có thể 1-2 ngày người bệnh đã sốt và phát ban khắp người chứ không theo trật tự và để lại vết thâm như sốt phát ban dạng sởi.

Sởi:

- Các triệu chứng ban đầu gồm: sốt cao đột ngột, đau người, viêm đường hô hấp, ho, chảy nước mũi...

- Sau 2-3 ngày nổi ban ở mặt, gáy, sau đó lan ra khắp người và các ban bay dần sau khoảng 3 ngày.

- Sau khi các ban bay hết vẫn để lại những vết thâm.

Giai đoạn các ban lặn có thể để lại biến chứng. Trẻ em hay bị viêm nhiễm đường hô hấp, với người lớn là viêm não.

Các bác sĩ cũng khuyến cáo, khi có biểu hiện bệnh nên đi khám để biết chắc chắn sốt phát ban là do nguyên nhân nào. Bệnh rất dễ lây lan vì lây qua đường hô hấp. Có thể phòng bệnh bằng cách tiêm phòng. Loại văcxin đang sử dụng phổ biến là văcxin phối hợp ngừa 3 bệnh: sởi, quai bị và rubella.

Bên cạnh đó, đối với bệnh này, điều quan trọng là không nên kiêng tắm rửa. Lý do là nếu không được vệ sinh sạch sẽ, đặc biệt là các hốc tự nhiên như: mũi, mắt, miệng sẽ gây bội nhiễm, dẫn đến các biến chứng sưng khớp, viêm não, xuất huyết giảm tiểu cầu...

Các bệnh do virus hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Vì vậy, người bệnh cần nghỉ ngơi, uống nhiều nước, ăn đủ chất, hạ nhiệt khi sốt cao. Tuyệt đối không được tự ý truyền dịch và tiêm kháng sinh vì không có tác dụng.

Phương Trang

Bệnh Rubella nguy hiểm với người mang thai

Bệnh Rubella hay bệnh Rubeon (còn gọi là bệnh sởi Đức hoặc sởi 3 ngày) là một bệnh truyền nhiễm lành tính do virut Rubella gây nên, có thể xảy ra thành dịch.

Tuy tỷ lệ tử vong và biến chứng rất thấp nhưng bệnh Rubella lại đặc biệt nguy hiểm với phụ nữ có thai, nhất là trong 12 tuần đầu thai kỳ vì có thể gây sảy thai, dị tật thai nhi và nguy cơ đẻ ra những trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh với các biến chứng nặng nề như bại não, tổn thương tim, mù mắt...

Cách thức lây truyền bệnh

Bệnh hiện diện khắp nơi trên thế giới, hay xảy ra vào mùa đông và mùa xuân.  Ổ chứa  virut gây bệnh Rubella duy nhất là người và người đang mắc bệnh là nguồn truyền nhiễm duy nhất. Khi người bệnh ho, hắt hơi và khạc nhổ có thể làm bắn các giọt chứa virut ra ngoài môi trường, nếu những người xung quanh hít phải virut có thể bị lây bệnh. Trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh sẽ đào thải nhiều virut trong dịch tiết hầu họng, trong nước tiểu và đó là nguồn truyền nhiễm cho người tiếp xúc. Tất cả mọi người chưa có miễn dịch với virut Rubella đều có thể bị mắc bệnh. Tùy thuộc nồng độ kháng thể mẹ truyền qua rau thai mà trẻ sơ sinh có kháng thể của mẹ được bảo vệ khoảng 6 - 9 tháng. Kháng thể IgM và IgG xuất hiện 2 - 4 ngày sau khi xuất hiện ban, đạt nồng độ cực đại sau 2 tuần. IgM giảm dần, trở về âm tính sau 1 - 2 tháng nhưng cũng có thể kéo dài ở khoảng 3 - 5% số bệnh nhân, trong khi IgG thì tồn tại suốt đời.

Lây truyền từ mẹ sang con

Thời gian 12 tuần đầu thai kỳ là thời gian nguy hiểm nhất khi nhiễm Rubella ở người mẹ, virut Rubella từ máu của mẹ chuyển qua rau thai vào thai nhi trong giai đoạn khởi phát và toàn phát của bệnh. Virut này có khả năng phá hủy hay làm chậm sự phát triển của phôi thai và đây là nguyên nhân gây ra những dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Tùy vào thời điểm nhiễm bệnh, tỷ lệ con bị hội chứng Rubella bẩm sinh rất thay đổi: 80% khi thai dưới 12 tuần, 54% khi thai được 13 - 14 tuần, 35% ở tuổi thai 13

- 16 tuần, 10% khi thai 16 tuần và sau 20 tuần thì tỷ lệ này không đáng kể.

Trong trường hợp mẹ nhiễm Rubella trước tuần thứ 18, sự lây truyền từ mẹ sang thai nhi có thể được khẳng định hoặc loại trừ bằng cách định lượng IgM máu cuống rốn sau tuần lễ thứ 22. Nếu IgM dương tính sẽ khẳng định trẻ nhiễm  Rubella với  độ chính xác 94%, nếu IgM âm tính sẽ loại trừ trẻ nhiễm Rubella với độ chính xác 82%.

Tổn thương Rubella ở trẻ sơ sinh do mẹ bị bệnh Rubella khi mang thai.

Các giai đoạn của bệnh

Thời kỳ ủ bệnh: 16 - 18 ngày, có thể dao động từ 14 - 23 ngày, thường là 10 ngày kể từ khi tiếp xúc đến lúc sốt. Thời gian này người bệnh đã bị nhiễm virut nhưng chưa có biểu hiện bệnh.

Thời kỳ khởi phát: Trước khi phát ban 1 - 7 ngày; mệt mỏi, đau đầu, sốt, viêm kết mạc nhẹ và sưng hạch; triệu chứng về hô hấp rất nhẹ hoặc không có; ở trẻ em, phát ban có thể là biểu hiện đầu tiên của bệnh.

Thời kỳ toàn phát: - Nổi ban với 3 đặc điểm: ban bắt đầu mọc ở trán, mặt và lan xuống lưng và các chi; ban dạng dát sẩn nhỏ, màu sáng hơn so với ban sởi nhưng có thể kết hợp thành quầng đỏ, rộng; ban tồn tại từ 1 - 5 ngày, nhưng hay gặp nhất là 3 ngày (cho nên còn gọi Rubella là sởi 3 ngày).

- Sưng và đau các khớp cổ tay, khớp gối, ngón tay và rõ nhất trong giai đoạn phát ban.

- Đôi khi có biểu hiện đau tinh hoàn ở người trẻ tuổi.

Thời kỳ lui bệnh: Các triệu chứng bệnh kéo dài 3 - 4 ngày rồi tự hết. Riêng triệu chứng đau các khớp có thể kéo dài từ 1 - 14 ngày sau khi các biểu hiện khác của Rubella mất đi. Một năm sau có thể tái phát lại; thời kì có thể lây bệnh cho người khác là khoảng 1 tuần trước và ít nhất 4 ngày sau khi phát ban, nếu trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh có thể đào thải vi rút qua phân cho đến 30 tháng tuổi.

Điều trị bệnh Rubella

Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu chủ yếu là nghỉ ngơi, uống nhiều nước và đảm bảo dinh dưỡng, hạ sốt, giảm đau điều trị các triệu chứng khác (nếu cần thiết).

Điều trị hội chứng Rubella bẩm sinh

Chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, dùng thuốc hạ sốt khi trẻ sốt, nâng cao sức đề kháng: ăn uống hợp lý, dùng thêm nước trái cây, giữ gìn vệ sinh cho trẻ.

Phòng bệnh đặc hiệu

- Đối với trẻ em: tiêm phòng vaccin một mũi sau 15 tháng tuổi, tiêm mũi 2 cách mũi một khoảng 6 - 10 tháng hoặc tiêm vào lúc trẻ được 4 - 6 tuổi.

- Đối với người lớn: có thể làm xét nghiệm huyết thanh, nếu đã có miễn dịch thì không cần tiêm vaccin. Nếu chưa có miễn dịch thì nên tiêm vaccin, nhất là phụ nữ trong lứa tuổi mang thai.

+ Khi chưa có thai: sau những mũi tiêm đầu lúc còn trẻ, trước khi có ý định mang thai, tốt nhất nên tiêm nhắc lại một mũi. Thời điểm tiêm phòng ít nhất là 1 tháng, tốt nhất trước khi dự kiến có thai khoảng 3 - 4 tháng, đây là biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa hội chứng Rubella bẩm sinh.

+ Khi đã mang thai: chống chỉ định tiêm vaccin ngừa Rubella, vì đây là loại vaccin sống giảm độc lực có khả năng truyền bệnh cho thai nhi.

+ Vệ sinh phòng ở của người bệnh: lau sàn, bàn ghế, giường, tủ... bằng nước javel hoặc cloramin B sau đó lau lại bằng nước sạch. Các đồ vật nhỏ có thể phơi nắng.

+ Trong trường hợp mang thai mà chưa tiêm phòng Rubella, nên cách ly với người mắc Rubella, nhất là trong 16 tuần đầu của thai kỳ. Đảm bảo các thành viên trong gia đình đã có miễn dịch với Rubella. Nên tránh tiếp xúc với đồng nghiệp có dấu hiệu nghi nhiễm Rubella. Nếu phải đi công tác hoặc du lịch, nên hoãn chuyến đi tới những địa điểm đang có dịch Rubella. Nếu chẳng may tiếp xúc với người mắc Rubella, nên đi khám ngay lập tức tại chuyên khoa truyền nhiễm và chuyên khoa phụ sản. Ngoài ra nên tăng cường giữ sức khỏe chung bằng cách ăn uống đủ dinh dưỡng, mặc ấm và sống trong môi trường an toàn, lành mạnh.

Hội chứng Rubella bẩm sinh

- Những yếu tố nguy cơ mắc Rubella bẩm sinh bao gồm: mẹ đang mang thai nhưng chưa chủng ngừa Rubella, mẹ đang mang thai tiếp xúc với người bị Rubella. Hậu quả của nhiễm Rubella phụ thuộc vào tình trạng nặng lúc hiện tại như dị tật ở tim, tổn thương hệ thần kinh.

Triệu chứng lâm sàng: nhẹ cân, chậm phát triển trong tử cung, đục thủy tinh thể, điếc, tật đầu nhỏ, chậm phát triển trí tuệ, ban trên da khi đẻ.

Biến chứng:

- Mắt: đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, viêm võng mạc.

- Tim: còn ống động mạch, thông liên thất, hẹp động mạch phổi.

- Thần kinh: chậm phát triển tinh thần, tật đầu nhỏ, viêm não-màng não.

- Biến chứng khác: gan to, điếc, bệnh mềm xương.

ThS. Vũ Văn Du (BV Phụ  sản TW)

Khi nào chị em nên tiêm phòng rubella?

Nên tiêm phòng rubella ngay khi bước vào độ tuổi sinh đẻ (từ 18 tuổi)

Tôi năm nay 25 tuổi, đang có ý định kết hôn, sinh con. Nhiều người khuyên tôi nên tiêm phòng Rubella để tránh các biến chứng cho thai nhi...

  • Hoang mang vì "dính" bầu sau tiêm phòng rubella
  • Hàng ngàn phụ nữ phá thai nhầm vì bệnh Rubella
  • Lãng phí xét nghiệm rubella cho bà bầu?

Nhưng có người nói chỉ cần tiêm trước khi có bầu 1 tháng, có người nói cần ít nhất là 3 tháng. Vậy xin hỏi khoảng cách nào là an toàn nhất? Xin cảm ơn bác sĩ (Mai Trang, Thủ Đức, TPHCM)

ThS. BS. Đinh Thạc, Chuyên viên tư vấn nhi khoa, BV Nhi đồng 1 TPHCM, trả lời:

Trước đây, khuyến cáo chung là tiêm phòng trước khi có thai 1 tháng nhưng theo khuyến cáo mới nhất của Uỷ ban tham vấn thực hành tiêm chủng Hoa Kỳ (ACIP), người mẹ nên tiêm ngừa vắc-xin phòng bệnh Rubella trước khi quyết định có thai là 3 tháng.

Sở dĩ cần phải tiêm phòng trước 3 tháng là vì vắc-xin "3 trong 1" ngừa cả 3 bệnh Sởi - Quai bị và Rubella là loại vắc-xin vi-rút sống giảm độc lực (nghĩa là các loại vi-rút có trong lọ vắc xin vẫn còn sống nhưng đã bị làm yếu đi).

Trong khi đó, theo hướng dẫn thực hành lâm sàng của Hiệp hội sản phụ khoa Canada về Rubella và thai kỳ, thai nhi bị ảnh hưởng nhiều hay ít sẽ tùy thuộc vào thời điểm bị nhiễm vi-rút của người mẹ trong 6 tháng đầu mang thai. Theo đó, trong 3 tháng đầu thai kỳ: khi người mẹ bị nhiễm bệnh Rubella có tới 70% - 100% trẻ sinh ra ra bị hội chứng Rubella bẩm sinh, trong đó 25% trẻ bị dị tật bẩm sinh ở các cơ quan trọng yếu như tim, mắt, não.

Như vậy, dù vi-rút trong vắc-xin rất yếu nhưng vẫn ẩn chứa nguy cơ. Vì thế, tốt nhất là nên tiêm phòng ngay khi bước vào độ tuổi sinh đẻ (từ 18 tuổi) bởi giá trị miễn dịch của vắc-xin là rất lâu dài.

Hội chứng Rubella bẩm sinh với nhiều dị tật bẩm sinh rất nghiêm trọng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ, cụ thể như:

Dị tật mắt bao gồm: đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, viêm võng mạc.

Dị tật tim: còn ống động mạch, thông liên thất, hẹp động mạch phổi.

Dị tật thần kinh: chậm phát triển tinh thần, tật đầu nhỏ, viêm não-màng não.

Biến chứng khác: gan to, điếc, bệnh mềm xương.

Nguồn: Dân trí

Cách chăm sóc bé bị bệnh sởi

Bệnh sởi là một bệnh sốt phát ban truyền nhiễm do virut gây nên, bệnh lây qua đường hô hấp, rất hay gay thành dịch và mùa đông xuân. 90% đối tượng hay gặp ở trẻ em. Trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi rất ít khi bị bệnh, do còn miễn dịch của mẹ truyền sang qua rau thai, nếu trẻ tuổi nay mà bị bệnhthì làdo mẹ chưa bị sởi. Bệnh có thể gây miễn dịch trong thời gian dài sau khi mắc bệnh.

Cách chăm sóc bé bị bệnh sởi

Triệu chứng của bệnh:

1. Sốt cao

Đầu tiên, trẻ có sốt cao 38,5 đến 40độ có kèm theo họi chứng viêm long niêm mạc:

  • Viêm niêm mạc mắt: làm cho mắt đỏ, chảy nước mắt, sau đó viêm kết mạc. Trừờng hợp nặng hai mí mắt sưng nề dính chặt vào nhau.
  • Viêm niêm mạc đường hô hấp: Trẻ hắt hơi, sổ mũi, ho, họng đỏ,trường hợp nặng có thể viêm thanh quản, mất tiếng.Khám miệng thấy những chấm trắng nhỏ bằng đầu đinh gim, rải rác trong má trước răng hàm (hạt Koplik). Thời kỳ viêm long này là dễ lây bệnh nhất.

2. Thời kỳ mọc ban sởi

Kéo dài khoảng 3 đến 4 ngày, các ban sởi bắt đầu mọc sau tai lan dần ra mặt rồi xuống ngực bụng, lưng và cuối cùng là đến chân. Ban sởi là an dạng rát, màu đỏ thắm,kích thước 1 – 1,5 mm. xen giữa các ban là khoảng da lành, sờ mịn như nhung, không bao giờ gây ngứa. Trẻbị sốt trong suốt thời kỳ mạc ban.

3. Thời kỳ lui bệnh

Nếu không có các biến chứng,trẻ hết sốt, ban bắt đầu lui dần theo tuần tự như khi sởi mọc, nưng sau khi bay để lại vết thâm trên da, trên phủ vẩy phấn trắng tạo thành vết vằn như da hổ.

Trong trường hợp có biến chứng, trẻ vẫn sốt cao sau khi ban sởi đã bay, trẻ biếng ăn, sút cân, hơi thở hôi, có thể bị viêm miệng hoại tử, có thể viêm phế quản , viêm não, viêm phổi, viêm tai giữa, viêm thanh quản, viêm ruột, ỉa chảy kéo dài dẫn tới suy dinh dưỡng.

4. Chăm sóc trẻ khi bị sởi

  • Để trẻ nằm trong buồng thoáng khí, sáng, không nên kiêng khem quá mức, nên bỏ tập tục kiêng nước, kiêng gió. Vệ sinh răng miệng và thân thể cho trẻ.
  • Nhỏ mũi, mắt cho trẻ bằng dung dịch nước muối sinh lý hoặc dung dịch nước nhỏ mắt mũi, ngày 3 -4lần.
  • Nếu không có biến chứng thì không cần dùng kháng sinh chỉ dùng Vitamin B1, C liều cao. TRường hợp sốt ca trên 39độ C thì có thể cho hạ nhiệt bằng thuốc
  • Trường hợp sởi có biến chứng (dấu hiệu trẻ vẫn sốt sau khi ban đã bay hết) phải đưa trẻ đến bệnh viện và điều trị kịp thời.
  • Chế độ ăn trong những ngày trẻ sốt cao thì nên cho trẻ ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu, uồng nhiều nước quả.
  • Khi trẻ bị tiêu chảy cho trẻ bú mẹ nhiều hơn, chú ý bù nước và điện giải cho trẻ để chống mất nước mất muối.

5. Phòng bệnh

Cách phòng bệnh tốt nhất là đưa trẻ từ 9tháng tuổi đi tiêm phòng văcxin sởi đầy đủ. Phát hiện sớm giai đoạn viêm long để cách ly trẻ bệnh với trẻ thường.

Bé nhà bạn mới 6 tháng tuổi, rất ít khả năng trẻ mắc sởi nên tốt nhất bạn nên đưa trẻ đi khám để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Trẻ bị sốt phát ban có đáng lo ?

Sốt phát ban là bệnh thường gặp ở trẻ em, tuy nhiên cũng có thể gặp ở người lớn. Hầu hết trẻ em đều có ít nhất 1 lần mắc bệnh này và bệnh chỉ nguy hiểm khi chúng ta hiểu sai cách chữa trị, từ đó dẫn tới biến chứng có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Bệnh sốt phát ban được biểu hiện bằng sốt và nổi nhiều chấm đỏ rải rác toàn thân. Bệnh do nhiều loại siêu vi gây ra nhưng có 2 nguyên nhân chính gây bệnh sốt phát ban là siêu vi sởi và siêu vi gây bệnh rubella. Bệnh sởi còn gọi là ban đỏ, bệnh rubella còn gọi là ban đào. Bệnh sốt phát ban do sởi thường biểu hiện bằng sốt cao kèm theo ho, sổ mũi, mắt đỏ, vài ngày sau đó thì phát ban. Đầu tiên ban xuất hiện ở mặt, ngực, toàn thân.

Trẻ bị sốt phát ban có đáng lo ?

Sau khi ra ban, trẻ sẽ giảm sốt và sau khi các nốt ban mất đi sẽ để lại các vết thâm trên da khoảng vài tuần sau mới hết. Sốt phát ban do sởi nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến các biến chứng viêm phổi, viêm não, gây co giật, tử vong. Còn với bệnh sốt phát ban do rubella thường trẻ sốt nhẹ hoặc không sốt, ban xuất hiện rất nhanh có thể một ngày đã nổi khắp cơ thể, đa số trẻ kèm theo tiêu chảy hoặc tiêu phân hơi lỏng. Ban đào hay rubella thì rất lành tính ở trẻ em, rất hiếm gặp biến chứng. Tuy nhiên, nếu phụ nữ mang thai trong vòng 3 tháng đầu mắc bệnh ban đào sẽ ảnh hưởng đến thai nhi gây sẩy thai, sanh non, thai nhi sanh ra mắc nhiều tật ở mắt, tim, não,…

Bệnh sốt phát ban lây lan rất nhanh vì bệnh lây theo đường hô hấp do người lành hít phải các chất có siêu vi trùng gây bệnh khi người bệnh ho hay hắt hơi. Tuy nhiên, không phải ai mang mầm bệnh cũng bị bệnh nên chúng ta phải chủ động, nếu biết có vùng nào nhiều người bị sốt phát ban thì hạn chế tiếp xúc. Những trẻ từ 6 tới 12 tháng tuổi dễ bị lây bệnh nhất vì vào tuổi này, kháng thể của người mẹ truyền cho chúng từ trong bào thai đã hết mà kháng thể mới thì chưa thành lập.

Đối với trường hợp sốt phát ban thể nhẹ, bệnh nhân có thể được điều trị và chăm sóc tại nhà bằng cách: khi trẻ sốt cao nên lau mát bằng nước ấm; tránh cơ thể bé tiếp xúc với gió, ngay cả gió quạt máy; cho trẻ uống paracetamol liều 10 – 15 mg/kg/1 lần, có thể lặp lại sau từ 4 – 6 giờ nếu trẻ còn sốt trên 38,50C; chế độ dinh dưỡng trong giai đoạn điều trị bệnh cũng rất quan trọng, vừa cung cấp năng lượng cho cơ thể chống lại bệnh, vừa đảm bảo vệ sinh để bé không bị mắc tiêu chảy. Chế độ ăn cũng nên tăng thêm, cho trẻ ăn nhiều hơn bình thường, chia thành nhiều bữa và ưu tiên cho những thức ăn dễ tiêu hóa và đầy đủ chất dinh dưỡng; cho trẻ bú tiếp tục nếu trẻ còn bú; cho trẻ ở nơi thoáng mát, sạch sẽ; vệ sinh cá nhân và vệ sinh răng miệng cho trẻ. Nếu bệnh không nặng lên thì không cần nhập viện, sau vài ngày bệnh sẽ tự khỏi. Trong trường hợp bệnh tiến triển nặng, sốt quá cao, thở mệt, tiêu phân có máu, chảy mũ tai, co giật, hôn mê nên đưa trẻ đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được điều trị kịp thời vì lúc này trẻ đã có biến chứng.

Về cơ bản, sốt phát ban do virus là lành tính, song vẫn có những cas bị biến chứng. Vì vậy, để hạn chế sự lây lan của bệnh, các nhà chuyên môn khuyến cáo, trước hết cần làm sạch môi trường sống, giữ gìn vệ sinh cá nhân. Khi có biểu hiện sốt phát ban, người bệnh cần tránh chỗ đông người, nếu phải tiếp xúc thì cần đeo khẩu trang, hoặc nếu có điều kiện thì tốt nhất là cách ly một thời gian ngắn để phòng bệnh và tránh lây lan cho người khác. Tuy nhiên, trẻ bệnh có thể lây cho trẻ khác ngay khi chưa có biểu hiện phát ban. Cách phòng ngừa tốt nhất là tiêm chủng. Vaccine sởi có thể chích ngừa khi trẻ được 9 tháng tuổi theo chương trình tiêm chủng mở rộng; rubella được chích chung với quai bị và sởi trong cùng 1 lần khi trẻ được 12 tháng tuổi.

Bình tĩnh xử lý khi trẻ bị sốt phát ban

Thấy con bị sốt, nổi ban khắp người, nhiều cha mẹ ở Hà Nội liền đưa con đến bệnh viện khám vào buổi tối dưới dạng cấp cứu vì sợ biến chứng não. Tuy nhiên, dịch sốt phát ban ở trẻ hiện nay không quá nguy hiểm, thường tự khỏi.

"Lý do là vì nhiều người sợ con bị sốt phát ban dẫn đến biến chứng ở não. Tuy nhiên, cha mẹ không nên lo lắng thái quá vì không phải trẻ nào bị sốt, nổi ban cũng để lại hậu quả nguy hiểm. Phần lớn trẻ đến khám đều được cho về nhà điều trị, chỉ một số rất ít cần phải nhập viện", phó giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai cho biết.

Bình tĩnh xử lý khi trẻ bị sốt phát ban

Theo ông, phát ban là triệu chứng của nhiều bệnh, trong đó bệnh sởi thì nguy hiểm hơn nhiều so với rubella và các dạng sốt có nổi ban do virus khác vì dễ dẫn đến biến chứng nặng. Dịch sốt phát ban ở trẻ hiện nay tại Hà Nội đa phần là sốt do virus, không phải sởi và thường không gây biến chứng ở não.

Vì thế, khi trẻ bị sốt có nổi ban, cha mẹ chỉ cần điều trị triệu chứng, hạ sốt khi cần, nghỉ ngơi, tăng cường chế độ ăn. Ngoài ra, tuyệt đối không được tự ý cho trẻ uống kháng sinh. Nhiều cha mẹ cứ thấy con ốm là cho uống kháng sinh cho yên tâm, tuy nhiên việc này vô tình lại làm khó cho bác sĩ trong việc chẩn đoán vì không biết ban do bệnh hay do dị ứng thuốc.

Cha mẹ có thể dựa vào những biểu hiện lâm sàng của bệnh để phân biệt giữa sởi và các dạng sốt có nổi ban khác.

1. Sởi:

  • Sốt cao đột ngột
  • Ban mọc không dày, theo quy luật từ đầu, mặt xuống đến người, chân
  • Ban nào mọc trước thì sẽ bay trước, để lại vết thâm trên da sau 1-2 tuần mới hết

Giai đoạn các ban lặn có thể để lại biến chứng. Trẻ em hay bị viêm nhiễm đường hô hấp, với người lớn là viêm não.

2. Sốt có nổi ban

  • Sốt nhẹ, ít khi sốt cao
  • Phát ban dày toàn thân, mọc lộn xộn, không theo quy luật
  • Các ban bay lộn xộn, thậm chí cùng lúc, khi bay không để lại vết thâm ở da

Bên cạnh đó, đối với bệnh này, điều quan trọng là không nên kiêng tắm rửa. Lý do là nếu không được vệ sinh sạch sẽ, đặc biệt là các hốc tự nhiên như: mũi, mắt, miệng sẽ gây bội nhiễm, dẫn đến các biến chứng sưng khớp, viêm não, xuất huyết giảm tiểu cầu…

Ngoài ra, phó giáo sư Dũng cũng khuyến cáo, khi thấy trẻ sốt quá cao, trên 39 độ, có biểu hiện mệt mỏi, khó thở, khó chịu, trẻ kêu đau đầu nhiều thì cha mẹ nên đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế vì bệnh có dấu hiệu nặng.

Trẻ em bị sốt phát ban phải làm gì?

Phát ban là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ. Khoảng thời gian trước khi bị phát ban, em bé sẽ có những thay đổi về trạng thái tinh thần, rõ ràng nhất là biểu hiện quấy khóc. Sau đó bé sẽ bị sốt, sổ mũi, ho, nhiều bé còn bị thêm tiêu chảy , vài ngày sau cơ thể bé sẽ xuất hiện những chấm đỏ toàn thân.

Trẻ em bị sốt phát ban phải làm gì?

Nguyên nhân gây bệnh?

Sốt phát ban do một số loại siêu vi gây ra, nhưng có 2 nguyên nhân chính là siêu vi sởi và siêu vi bệnh rubella. Bệnh sởi còn gọi là ban đỏ, còn bệnh rubella gọi là ban đào.

Sốt phát ban lây lan qua đường hô hấp. Khi bệnh nhân ho, hắt hơi, thì những siêu vi trùng bị bắn ra ngoài khiến cho những người xung quanh có thể hít phải và nhiễm bệnh.

Biểu hiện phát bệnh?

Sốt phát ban do sởi thường có những biểu hiện như sau: trẻ bị sốt cao kèm theo ho và sổ mũi, mắt đỏ. Lúc này các bé cảm thấy rất bứt rứt, khó chịu trong người. Sau đó vài ngày, trẻ sẽ bị phát ban toàn thân, đồng thời cũng sẽ giảm sốt và bớt quấy hơn.

Phát ban do Rubella lại có biểu hiện sốt nhẹ hoặc không sốt. Các nốt ban xuất hiện khá nhanh, trong 1 ngày đã có thể nổi lên trên khắp thân của trẻ. Ở trường hợp này, phần lớn trẻ mắc bệnh sẽ có kèm tiêu chảy hoặc phân hơi lỏng.

Sốt phát ban có gây biến chứng không?

Khi trẻ bị bệnh, các bậc cha mẹ luôn lo lắng, không biết có gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng của trẻ hay không?

  • Bệnh sởi sẽ trở nên nguy hiểm nếu có các biến chứng như : viêm phổi, viêm tai giữa, kiết lỵ, đặc biệt là viêm não.
  • Rubella là bệnh lành tính hơn, và rất hiếm khi xảy ra biến chứng nguy hiểm. Nếu phụ nữ đang mang thai bị mắc Rubella trong 3 tháng đầu của thai kì, có thể dẫn đến sẩy thai, đẻ non, hoặc trẻ sinh ra sẽ mắc tật về mắt, tim, não.

Điều trị và phòng ngừa cho trẻ

Nếu trẻ sốt cao, cha mẹ có thể cho trẻ dùng thuốc hạ sốt, giảm ho. Nhưng nếu thấy bé có những biểu hiện bệnh nặng như : sốt cao không hạ, khó thở, co giật, hôn mê, đi ngoài ra máu hay chảy mủ ở tai… thì cần phải đưa ngay trẻ đến bệnh viện để được cấp cứu kịp thời.

Trong quá trình điều trị, cũng cần phải chú ý tới chế độ ăn uống của trẻ. Nên cho trẻ ăn những thức ăn lỏng, dễ tiêu hóa, đặc biệt cho uống nhiều nước vì lúc này cơ thể trẻ có thể bị mất nước nhiều.

Khi trẻ phát ban, tuyệt đối không được ủ kín và kiêng vệ sinh thân thể, vì điều đó có thể khiến bệnh trở nặng thêm. Thói quen kiêng gió, kiêng nước, thậm chí kiêng trong cả ăn uống là hoàn toàn sai lầm và lạc hậu. Trẻ cần được vệ sinh sạch sẽ để tránh nhiễm trùng Da và biến chứng viêm phổi. Bạn có thể tắm cho con bằng nước ấm, phòng tắm kín gió, để tránh cho trẻ bị nhiễm lạnh .

Cần phải cách ly trẻ bị bệnh để tránh lây lan sang các bạn khác. Tuy nhiên, bệnh có thể lây ngay từ khi trẻ chưa có biểu hiện phát ban, nên việc phòng tránh trở nên khó khăn hơn.

Triệu chứng sốt phát ban ở trẻ

Đối với người Việt Nam, những vết nổi trên toàn thân nào cũng được gọi là "ban" khiến nhiều lúc khó phân biệt những bệnh có triệu chứng này. Bệnh sốt phát ban thường được nhầm lẫn nhiều nhất với bệnh sởi , một bệnh nặng hơn nhiều.

Bệnh sốt phát ban rất thông thường, hầu như em bé nào cũng từng bị qua. Tuy nhiên, có em bị rất nhẹ, không được để ý tới, có em thì lại bị nặng hơn với đầy đủ những triệu chứng, có khi bị cả giật kinh nếu cơn sốt quá cao và bất thình lình.

Triệu chứng sốt phát ban Rubella

Thông thường, thời gian ủ bệnh, tức từ lúc tiếp xúc với siêu vi gây bệnh cho tới lúc có triệu chứng, là 1 tới 2 tuần. Triệu chứng gồm có:

Sốt

Triệu chứng sốt phát ban ở trẻ

Thường cơn sốt đến bất thình lình và cao, hơn 39,5 độ C (103 độ F). Em bé có thể bị đau cổ họng nhẹ hoặc hơi sổ mũi. Ngoài ra, em cũng có thể bị sưng hạch ở cổ. Cơn sốt thường kéo dài từ 3 tới 7 ngày.

Nổi đỏ

Triệu chứng sốt phát ban ở trẻ

Sau khi hết sốt, các em thường bị nổi đỏ, cũng có em không bị. Ban đỏ này thường gồm những điểm hay những mảng nhỏ mầu hồng. Những vết này thường phẳng nhưng cũng có thể hơi nổi cộm. Chung quanh những vết này có thể có một quầng trắng. Ban thường nổi lên ở ngực, sau lưng, bụng và sau đó lan tới cổ và cánh tay, có thể lan tới chân và mặt. Ban thường không ngứa hay làm khó chịu và có thể kéo dài vài giờ tới vài ngày.

Các triệu chứng khác

Gồm có mệt mỏi, khó chịu, tiêu chảy nhẹ, kém ăn, mí mắt sưng…

Bệnh sốt phát ban có lây không ?

Đây là một bệnh trẻ em thường mắc phải,tuy nhiên người lớn vẫn có thể mắc bện hvà thường dẫn đến biến chứng nặng hơn là viêm não, màng não… Bệnh sốt phát ban có tên Mỹ là Roseola tức là ban màu hồng. Là vì những vết nổi lên sau cơn sốt của bệnh này có mầu hồng.

Đối với người lớn, nếu đã từng tiêm ngừa 2 mũi sởi trước đó thì sẽ không có nguy cơ mắc bệnh này. Do đó, nguy cơ mắc bệnh sởi cao chỉ tập trung vào nhóm người lớn chưa từng chích vắcxin chủng ngừa.

Bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm do siêu vi-rút gây ra, lây lan qua đường hô hấp với biểu hiện lâm sàng là: sốt, viêm họng, viêm kết mạc mắt, niêm mạc hô hấp và tiêu hóa, sau đó phát ban đặc hiệu ở ngoài da. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời có thể dẫn đến các biến chứng như: viêm phổi, viêm não, nhiễm khuẩn huyết và tử vong.

Bệnh sốt phát ban có lây không ?

Truyền nhiễm quốc gia, người lớn mắc bệnh sởi có thể là do chưa đánh giá được hiệu quả miễn dịch của mũi tiêm phòng vắcxin sởi từ khi còn bé. Nhiều bệnh nhân đã được tiêm phòng từ nhỏ giờ lại mắc bệnh sởi, có nghĩa là miễn dịch đã không kéo dài suốt đời như vẫn tưởng, mà đã giảm theo thời gian. Khi miễn dịch giảm thì nguy cơ mắc bệnh sẽ rất cao. Đó là lý do khiến số thanh niên, người lớn mắc bệnh gia tăng.

PGS. Phong cho biết, bệnh sởi do vi-rút lây lan rất mạnh, phát tán qua đường hô hấp vào không khí, những người không có miễn dịch hoặc miễn dịch kém thì khả năng lây nhiễm cao. Thông thường, bệnh không nguy hiểm nhưng hầu hết sẽ khiến người bệnh mệt mỏi, khó chịu, không làm việc được. Đặc biệt, bệnh "chưa phát đã lây". Đó là khi người mắc bệnh bị sốt cao đột ngột, đau người, viêm đường hô hấp, ho, chảy nước mũi… thì có nghĩa là trước đó nguồn bệnh đã lây lan, phát tán cho người khác rồi. Với người mắc bệnh, sau 2 – 3 ngày xuất hiện các triệu chứng trên sẽ nổi ban ở mặt, gáy và lan ra khắp người rồi mất dần (các biến chứng của sởi thường xuất hiện sau khi hết phát ban).

Do bệnh có nguy cơ lây lan cao, vì thế khi sốt chưa rõ nguyên nhân cần cách ly ở phòng riêng, không đến chỗ đông người. Cần chú ý giữ vệ sinh răng miệng sạch sẽ, lau người bằng nước ấm. Khi có sốt cao, phải đến khám tại các cơ sở y tế để tìm nguyên nhân và cách điều trị đúng. Mùa thu đông chính là thời điểm dễ mắc và phát bệnh nên cần chú ý vệ sinh và phòng bệnh, PGS. Phong khuyến cáo.

Lưu ý: Người mắc bệnh lưu ý không nên nghe theo quan niệm sai lầm dân gian là phải kiêng gió, kiêng nước, kiêng ăn vì khi không vệ sinh cơ thể sạch sẽ rất khó hạ sốt. Kiêng ăn làm sức đề kháng kém và dễ bị nhiễm trùng. Khi chăm sóc bệnh là trẻ em, có thể tắm cho trẻ bằng nước ấm, lau mát thường xuyên và tăng cường dinh dưỡng bằng nhiều loại thức ăn mềm, chia nhỏ bữa ăn để trẻ ăn nhiều lần.

Làm gì khi.trẻ bị sốt phát ban

Sốt phát ban là chứng bệnh thường gặp ở bé và có thể khỏi hẳn sau đó khoảng 5-7 ngày nếu cha mẹ biết cách chăm sóc tốt.

Làm gì khi.trẻ bị sốt phát ban

Dấu hiệu nên đưa bé đi khám

Bé bị sốt cao, mệt mỏi, đi tiêu ra máu, tai chảy mủ, co giật, hôn mê…

Xử trí

- Nếu bé bị sốt, bạn có thể cho bé dùng thuốc hạ sốt tại nhà (nên tham khảo ý kiến bác sĩ cẩn thận). Nên cho bé uống thêm nước, dùng nhiều thức ăn dạng mềm, lỏng, dễ tiêu (nếu bé đã bước vào độ tuổi ăn dặm).

- Vệ sinh da bé sạch sẽ với nước ấm và lau khô bằng khăn bông mềm. Những nốt đỏ trên da trẻ sẽ nhạt đi và tự biến mất sau đó khoảng từ 5 đến 7 ngày. Không nên để cơ thể bé trong tình trạng quá nóng, bạn nên cho bé mặc quần áo rộng rãi và giữ phòng bé thoáng mát.

- Bạn không nên kiêng nước, kiêng ăn cho bé: Việc bạn ủ kín bé hoặc tránh tắm rửa sẽ khiến bé khó hạ sốt đồng thời các nốt phát ban càng trầm trọng hơn.

Kiêng ăn sẽ khiến bé suy dinh dưỡng, dễ bị nhiễm trùng. Nếu bé bú mẹ, bạn nên đảm bảo đủ các cữ bú trong ngày cho bé. Với bé ăn dặm, nên cho bé ăn làm nhiều bữa nhỏ trong ngày với những loại thức ăn lỏng, dễ tiêu hóa.

Nguy cơ sau sốt phát ban

Nhiều bé sau sốt phát ban có thể mắc phải hội chứng viêm cầu thận cấp. Bé có dấu hiệu phù ở mặt, chân hoặc phù toàn thân. Lượng nước tiểu của bé rất ít hoặc hầu như không có. Bé có thể đi tiểu ra máu.

Vì vậy, sau khi bé khỏi sốt và các nốt phát ban đã lặn hết, bạn vẫn nên thường xuyên theo dõi sức khỏe bé. Nếu thấy dấu hiệu bất thường, bạn nên nhanh chóng đưa bé đi khám.

Phòng phát ban cho bé

- Bạn nên cách ly bé với những người đang mang chứng bệnh phát ban.

- Bạn nên cho bé đi tiêm phòng theo định kỳ: Ngày nay, bác sĩ có thể tiêm phòng cho bé với hai chứng bệnh sởi và Rubella.

Lưu ý: Những nốt phát ban này thường không để lại sẹo cho bé sau này. Vì vậy, bạn không nên lo lắng bé sẽ có di chứng thẩm mỹ.

Theo Mẹ & Bé

Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em

Làm thế nào để phòng chống suy  dinh dưỡng  ở  trẻ em . Bố Mẹ cần phải quan tâm đến chế độ ăn uống của trẻ như thế nào?

dinh dưỡng trẻ em1. Tầm quan trọng của suy dinh dưỡng:

Suy dinh dưỡng do thiếu protein- năng lượng (thường gọi là suy dinh dưỡng) là tình trạng thiếu dinh dưỡng quan trọng và phổ biến ở trẻ em nước ta. Biểu hiện của suy dinh dưỡng là trẻ chậm lớn và thường hay mắc bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy và viêm đường  hô hấp , trẻ bị giảm khả năng học tập, năng suất lao động kém khi trưởng thành.

Năm 2000 ở nước ta có 2,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, chủ yếu là suy dinh dưỡng thể nhẹ và vừa. Tuy vậy, các thể suy dinh dưỡng này cũng có ý nghĩa quan trọng vì đứa trẻ dễ mắc bệnh, tăng nguy cơ tử vong và thường kèm theo thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng. Đáng chú ý là trẻ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ và vừa ít được người mẹ, các thành viên khác trong gia đình chú ý tới vì trẻ vẫn bình thường. ở một cộng đồng (xóm, làng, xã) có nhiều trẻ suy dinh dưỡng, ta càng khó nhận biết được vì chúng đều "nhỏ bé" như nhau. Do đó, suy dinh dưỡng trẻ em cần được sự quan tâm của mọi người.

2. Làm thế nào để biết trẻ bị suy dinh dưỡng?

Theo dõi cân nặng hàng tháng là cách tốt nhất để nhận ra đứa trẻ bị suy dinh dưỡng hay không. Trẻ bị suy dinh dưỡng khi không tăng cân, nhẹ cân hơn đứa trẻ bình thường cùng tuổi.

3. Tại sao trẻ bị suy dinh dưỡng?

Thiếu ăn, bữa ăn thiếu số lượng, thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết để phát triển:

Trẻ dưới 5 tuổi có nhu cầu dinh dưỡng cao để phát triển cơ thể. Để đáp ứng nhu cầu đó, cần cho trẻ ăn uống đầy đủ theo lứa tuổi. Trẻ dưới 4 tháng tuổi cần được bú mẹ hoàn toàn.  Sữa mẹ  là thức ăn lý tưởng của trẻ nhỏ . Từ tháng thứ 5 trẻ bắt đầu ăn thêm ngoài sữa mẹ. Từ tháng tuổi này, thực hành nuôi dưỡng trẻ có ý nghĩa quan trọng đối với suy dinh dưỡng. Nhiều bà mẹ chỉ cho trẻ ăn bột muối, thức ăn sam (dặm) thiếu dầu mỡ, thức ăn động vật, rau xanh, hoa quả. Đây là những tập quán nuôi dưỡng chưa hợp lý cần được khắc phục. Mặc khác, để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, trẻ cần được ăn nhiều bữa trong ngày vì trẻ nhỏ không thể ăn một lần với khối lượng lớn như trẻ lớn hoặc người lớn. Điều này có liên quan đến vấn đề chăm sóc trẻ.

Người mẹ bị suy dinh dưỡng : Người mẹ trước và trong khi mang thai ăn uống không đầy đủ dẫn đến bị suy dinh dưỡng và có thể đẻ ra đưa con nhẹ cân, còi cọc. Đứa trẻ bị suy dinh dưỡng từ trong bào thai sẽ dễ bị suy dinh dưỡng sau này. Người mẹ bị suy dinh dưỡng, ăn uống kém trong những tháng đầu sau đẻ dễ bị thiếu sữa hoặc mất sữa, do đó đứa con dễ bị suy dinh dưỡng.

Các bệnh nhiễm khuẩn như viêm đường hô hấp, tiêu chảy, các bệnh ký sinh trùng: Đây là tình trạng hay gặp ở nước ta. Chế độ nuôi dưỡng không hợp lý khi trẻ bệnh là một nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng sau mắc bệnh ở trẻ dưới 5 tuổi.

Thiếu chăm sóc hay đứa trẻ bị "bỏ rơi": Ngoài chăm sóc về ăn uống, đứa trẻ cần chăm sóc về sức khoẻ (tiêm chủng, phòng chống nhiễm khuẩn), chăm sóc về tâm lý, tình cảm và chăm sóc về vệ sinh. Môi trường sống ở gia đình bị ô nhiễm, sử dụng nguồn nước không sạch để nấu ăn, tắm giặt cho trẻ, sử lý nước thải, phân, rác không đảm bảo là những yếu tố dẫn đến suy dinh dưỡng.

4. Những đứa trẻ nào dễ bị suy dinh dưỡng?

Trẻ từ 6-24 tháng: thời kỳ có nhu cầu dinh dưỡng cao, thời kỳ thích ứng với môi trường, thời kỳ nhạy cảm với bệnh tật.

Trẻ không được bú sữa mẹ hoặc không đủ sữa.

Trẻ đẻ nhẹ cân (<2500g), trẻ="" để="" sinh="" đôi,="" sinh="">

Trẻ ở gia đình đông con, điều kiện vệ sinh kém, gia đình không hoà thuận.

Trẻ hiện đang mắc các bệnh nhiễm khuẩn như: bệnh sởi, tiêu chảy hay viêm đường hô hấp …

5. Cần làm gì để phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại mỗi gia đình?

Muốn phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, cần có sự hiểu biết, chủ động và thay đổi thực hành của mỗi gia đình. Do đó, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng lấy gia đình là đối tượng thực hiện công tác chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em. Mọi gia đình đều hưởng ứng và thực hiện 8 nội dung cụ thể sau đây:

Chăm sóc ăn uống của phụ nữ có thai để đạt mức tăng cân 10-12 cân trong thời gian có thai. Khám thai ít nhất 3 lần, tiêm đủ 2 mũi phòng uốn ván.

Cho trẻ bú sớm trong nửa giờ đầu sau khi sinh, bú hoàn toàn sữa mẹ trong 4 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 18-24 tháng.

Cho trẻ ăn bổ sung (ăn sam, dặm) từ tháng thứ 5. Tô màu đĩa bột, tăng thêm chất béo (dầu, mỡ, lạc, vừng). ăn nhiều bữa.

Thực hiện phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng: Phụ nữ có thai uống viên sắt/ acid folic hàng ngày. Trẻ em 6-36 tháng uống  vitamin  A liều cao 2 lần một năm. Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn (tiêu chảy, viêm đường hô hấp). Thực hiện tiêm phòng đầy đủ. Chăm sóc và nuôi dưỡng hợp lý trẻ bị bệnh.

Phát triển ô dinh dưỡng trong hệ sinh thái VAC (vườn, ao, chuồng) để có thêm  thực phẩm  cải thiện bữa ăn gia đình. Chú ý nuôi gà, vịt để trứng, trồng rau ngót, đu đủ, gấc.

Phấn đấu bữa ăn nào cũng có đủ 4 món cân đối. Ngoài cơm (cung cấp năng lượng), cần có đủ 3 món nữa là: rau quả (cung cấp vitamin, chất khoáng và chất xơ); đậu phụ, vừng lạc, cá, thịt, trứng (cung cấp chất đạm, béo) và canh cung cấp nước và các chất dinh dưỡng bổ sung giúp ăn ngon miệng.

Thực hiện vệ sinh môi trường, dùng nguồn nước sạch, tẩy giun theo định kỳ, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiểu tiện. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm, thức ăn không là nguồn gây bệnh.

Thực hiện gia đình hạnh phúc, có nếp sống văn hoá, năng động, lành mạnh. Có biểu đồ tăng trưởng để theo dõi sức khoẻ của trẻ. Không có trẻ suy dinh dưỡng, không sinh con thứ ba.

THEO TT_BYT

, ,

Nên Làm Gì Khi Men Gan Tăng Cao

Men gan có một vai trò vô cùng quan trọng vì chúng tham gia vào các quá trình chuyển hoá quan trọng các chất trong cơ thể. Khi men gan bị rối loạn, nhất là men gan tăng cao, phải hết sức lưu ý tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp xử trí thích hợp.

http://webadmin.hongngochospital.vn/Company/BackEnd/RadEditor/Upload/2010/08/25/KSKDK1.jpg

Nguyên nhân làm men gan tăng cao

Sự gia tăng men gan nổi trội nhất là viêm gan cấp tính đặc biệt là viêm gan cấp do siêu vi. Trong viêm gan cấp tính do siêu vi, có khi men gan tăng gấp từ 10 - 20 lần. Đối với viêm gan mạn tính thể tiến triển hoặc xơ gan hoặc viêm gan tự miễn thì men gan cũng có thể gia tăng. Đây cũng là một trong các tiêu chuẩn để đánh giá là viêm gan mạn tính tiến triển hay người lành mang virut viêm gan. Các nguyên nhân khác làm tổn thương tế bào gan như rượu (đặc biệt là trong các trường hợp nghiện rượu), sốt rét, ung thư gan, ngộ độc hoá chất cũng làm cho men gan gia tăng một cách đáng kể. Bệnh về đường mật cũng có liên quan mật thiết với gan, nhất là các bệnh do sỏi đường dẫn mật, giun chui ống mật, viêm đường mật. Các nguyên nhân này thường làm cho đường dẫn mật phù nề hoặc tắc nghẽn dịch mật khó lưu thông tác động đến tế bào gan và vì vậy làm cho men gan gia tăng. Ngoài ra người ta cũng nhận thấy có một số nguyên nhân ngoài gan như các bệnh nhiễm khuẩn nặng (bệnh sởi, Rubella, nhiễm khuẩn huyết) hoặc một số thuốc cũng có thể làm gia tăng men gan. Đối với thuốc, có một số có tác động rất lớn đến gan, thậm chí gây độc cho gan, điển hình nhất là một số thuốc chống vi khuẩn lao (INH, rifamixin…), thuốc thuộc nhóm fluoquinolon (ciprofloxacin), acetaminophen (paracetamol, tydol, efferalgan…). Khi ngộ độc do thuốc cũng có thể làm men gan gia tăng. Tuy vậy, trong một số trường hợp, mặc dù men gan tăng nhưng không phải từ gan mà bởi các lý do khác, ví dụ hoạt động thể lực mạnh. Vì vậy trong thực tế, người ta thấy rằng khi xét nghiệm máu thấy men gan tăng, nhất là trường hợp men gan tăng cao là cần phải xem xét, cân nhắc kỹ càng hơn và đặc biệt lưu ý đến gan, mật.

Khi men gan tăng, nên làm gì?

Nếu tình cờ phát hiện men gan trong máu gia tăng, đặc biệt là tăng gấp đôi chỉ số bình thường (trên 40U/l) thì cần đi khám bệnh để bác sĩ xác định nguyên nhân. Hiện nay, khi thấy men gan trong máu tăng thì việc đầu tiên nên nghĩ đến là người đó có bị nhiễm virut viêm gan hay không, vì vậy cần làm xét nghiệm tìm nguyên nhân. Trong các loại viêm gan do siêu vi thì viêm gan B, C có thể dùng phương pháp xét nghiệm nhanh để nhận xét sơ bộ. Riêng viêm gan do virut B, ngoài xét nghiệm xem HBsAg khi có dương tính còn cần làm thêm xét nghiệm HBeAg, HBsAb, antiHBeAg… Nếu có điều kiện thì cần xét nghiệm đánh giá ADN của virut. Khi đã xác định được nguyên nhân thì nên nghe theo tư vấn của bác sĩ khám bệnh cho mình. Nếu men gan tăng do viêm tắc đường dẫn mật thì cần được điều trị triệt để nguyên nhân. Người bị tăng men gan nên đi kiểm tra sức khoẻ định kỳ để được bác sĩ theo dõi và đánh giá sự tiến triển của bệnh. Trong ăn uống hằng ngày, cần kiêng rượu, bia và các loại nước giải khát có cồn, nhất là người đang mắc bệnh về gan (viêm gan cấp, mạn hoặc người lành mang virut viêm gan), mật (sỏi mật, giun chui ống mật, viêm đường dẫn mật) hoặc đã từng mắc bệnh sốt rét. Không nên hút thuốc lá, thuốc lào. Chế độ ăn cũng cần được lưu ý, ví dụ như không ăn mỡ động vật, các loại thức ăn chiên, xào. Khi xét nghiệm máu thấy men gan tăng trong khi đang dùng một loại thuốc nào đó cũng nên cho bác sĩ khám bệnh và theo dõi sức khoẻ cho mình biết để bác sĩ có phương án giải quyết. Ngoài ra cũng nên vận động cơ thể một cách nhẹ nhàng trừ khi đang bị viêm gan cấp tính.

Bệnh viêm thanh quản ở trẻ nhỏ

Bệnh viêm thanh quản là một tên gọi chung cho tất cả những bệnh viêm nhiễm sảy ra ở thanh quản, khí quản, phế quản. Đây là một căn bệnh khá phổ biến và thường xảy ra ở trẻ nhỏ (chủ yếu xảy ra ở trẻ dưới 6 tuổi), may mắn là ít khi để lại hậu quả nghiêm trọng. Tuy vậy chứng bệnh này cũng gây nhiều khó chịu cho trẻ và có thể gây ra các biến chứng.

Tổng quan về bệnh viêm thanh quản

Khi bị nhiễm trùng thanh quản, trẻ thường ho sặc sụa. Nó làm cho đường hô hấp bị viêm và sưng lên, gây ra đờm ở họng và mũi, làm cho việc hít và thở bị khó khăn.

Khoảng 3% trẻ em bị mắc bệnh này mỗi năm. Bệnh chủ yếu xảy ra ở trẻ dưới 6 tuổi, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi. Điều này là bởi vì ở tuổi này, khí quản và đường hô hấp của trẻ thường nhỏ hơn và do đó chúng có nhiều khả năng nhiễm bệnh hơn. Trẻ có nhiều khả năng bị mắc bệnh này nhiều lần. Bệnh thường xảy ra trong mùa thu và mùa xuân.

Các triệu chứng của viêm thanh quản

Triệu chứng rõ ràng nhất của viêm thanh quản là ho sặc sụa, có thể trẻ bị ho từ đêm. Trẻ có thể bị chảy nước mũi, đau họng và sốt nhẹ (38-39°C) trong một vài ngày trước khi bắt đầu ho.

Các triệu chứng khác của viêm thanh quản, bao gồm:

  • Phát ra âm thanh cọt kẹt khi hít vào hoặc thở khò khè khi thở ra.
  • Khàn cổ họng.
  • Có vấn đề về hô hấp.
  • Ngực phập phồng trong quá trình hô hấp.
  • Sốt cao ( có thể 40°C hoặc cao hơn).

Các triệu chứng này có thể nặng hơn vào ban đêm. Các triệu chứng thường kéo dài từ ba đến bảy ngày, thậm chí có thể đến hai tuần.

Tuy nhiên các triệu chứng này cũng có thể được gây ra bởi các vấn đề khác liên quan đến thanh quản. Vì vậy bạn cần đưa trẻ đển khám để xác định chính xác tình trạng bệnh của trẻ.

Bệnh viêm thanh quản ở trẻ nhỏ

Trẻ bị viêm thanh quản nặng có thể dẫn đến nhiễm trùng tai hoặc viêm phổi.

Các biến chứng của viêm thanh quản

Viêm thanh quản thường kéo dài không quá 3 ngày. Tuy nhiên, ở một số trẻ bị viêm thanh quản nặng có thể dẫn đến nhiễm trùng tai hoặc viêm phổi.

Nếu nhiễm trùng nặng có thể dẫn đến hẹp đường hô hấp làm cho trẻ không thể thở được. Nếu thấy trẻ khó thở cần kịp thời đưa trẻ đến bệnh viện để điều trị.

Bạn cần liên hệ với bác sĩ ngay lập tức nếu tình trạng của trẻ bị nặng hơn. Bạn nên gọi xe cấp cứu khẩn cấp nếu trẻ có hiện tượng ngất xỉu, không thể thở được, da ở xung quanh miệng có màu xanh hoặc da xung quanh cổ hoặc lồng ngực của trẻ co rút lại.

Nguyên nhân của viêm thanh quản

Nguyên nhân chủ yếu của viêm thanh quản ở trẻ là do virut thâm nhập vào thanh quản của trẻ gây ra. Có rất nhiều virut khác nhau, kể cả các virut ở đường hô hấp, virut gây bệnh sởi… có thể gây viêm thanh quản. Đôi khi bệnh có thể được gây ra bởi vi khuẩn.

Chẩn đoán viêm thanh quản

Các bác sỹ sẽ dựa trên các triệu chứng của trẻ và lịch sử bệnh của trẻ để chẩn đoán viêm thanh quản ở trẻ.

Việc trẻ bị thở khò khè và mắc các vấn đề hô hấp khác cũng có thể được gây ra bởi trẻ bị hóc vật gì đó trong họng hoặc mắc các vấn đề về hô hấp khác. Nếu các bác sỹ khám cho trẻ không chắc chắn những gì đang gây ra các triệu chứng đó thì họ có thể chuyển trẻ sang khám ở các bác sĩ phẫu thuật tai, mũi, họng.

Phòng chống viêm thanh quản

Bệnh viêm thanh quản ở trẻ có thể lây lan qua đường hô hấp. Đồng thời bệnh cũng có thể lây lan qua việc chạm tay hoặc mũi vào một bề mặt đã bị ô nhiễm. Vì vậy bạn cần vệ sinh sạch sẽ tay chân cho trẻ, tránh để trẻ tiếp xúc với người bệnh.

Điều trị viêm thanh quản

Hầu hết những trẻ có chuyển biến tốt dần lên trong khoảng 1 vài ngày thì không cần phải điều trị. Nếu bệnh kéo dài hơn hoặc tình trạng bệnh nặng thì cần điều trị kịp thời.

Cha mẹ làm gì để giúp trẻ?

Bạn cần cho trẻ uống nước thường xuyên để đảm bảo trẻ không bị mất nước hoặc thiếu nước. Việc cho trẻ đứng hoặc ngồi thẳng đầu nhiều hơn sẽ tốt hơn là để trẻ nằm vì trẻ sẽ thở tốt hơn.

Việc xông hơi nước vào mũi đã được sử dụng trong nhiều năm để điều trị viêm thanh quản, nhưng chưa có bằng chứng khoa học để chứng minh rằng nó thực sự tốt.Tuy nhiên nếu trẻ bị viêm nhẹ thì nó sẽ hữu ích trong việc làm cho trẻ cảm thấy thoải mái hơn.

Bạn có thể mở vòi nước nóng trong phòng tắm để nước chảy và đóng cửa phòng tắm lại để giữ lấy hơi nước sau đó cho trẻ đứng trong đó hít thở hơi nước đó nó sẽ làm trẻ dễ chịu hơn nhưng bạn cần ở bên cạnh trẻ, đề phòng trẻ nghịch nước hoặc bị bỏng vì nước quá nóng.

Thuốc

Việc sử dụng thuốc cho trẻ trong trường hợp này cần tuyệt đối tuân theo ý kiến bác sỹ. Bạn nên đưa trẻ đi khám và mua thuốc theo chỉ dẫn của bác sỹ, không nên tự ý mua thuốc về để điều trị từng triệu chứng của trẻ như ho, nghẹt mũi….

Việc đến bệnh viện để điều trị

Bạn cần liên hệ với bác sĩ ngay lập tức nếu tình trạng của trẻ bị nặng hơn. Bạn nên gọi xe cứu thương khẩn cấp nếu trẻ có hiện tượng ngất xỉu, không thể thở được, da ở xung quanh miệng có màu xanh hoặc da xung quanh cổ hoặc lồng ngực của trẻ co rút lại. Các bác sĩ có thể giúp trẻ có thêm nhiều oxy bằng cách sử dụng ống dẫn oxy cho trẻ thở. Sau đó các bác sỹ sẽ điều trị cho trẻ bằng cách tiêm hoặc cho trẻ uống thuốc. Nếu tình trạng bệnh không giảm thì các bác sỹ có thể sẽ dùng đến ống để dẫn khí vào khí quản để giúp trẻ thở.